Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

NHƯNG CON NGỰA NỔI TIẾNG TRONG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC

Ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường có màu đỏ nổi bật, Ô Vân Đạp Tuyết của Trương Phi lại có màu đen như chủ nhân... là đặc điểm của những con ngựa nổi tiếng thời cổ đại.

Ngua-Xich-Tho.jpg
Anh hùng có Lã Bố, tuấn mã có Xích Thố.  Tranh: Baidu

Ngựa Tuyệt Ảnh hy sinh thân mình cứu chủ
Ngựa Tuyệt Ảnh hy sinh thân mình cứu chủ. Tranh: Baidu

Ảnh: Ngựa Đích Lô cứu mạng chủ nhân
Ngựa Đích Lô cứu mạng chủ nhân.  Tranh: Weibo

Ngua-Da-chieu-ngoc-su-tu-28Ha-My-2c-baid
Dạ chiếu ngọc sư tử. Tranh: Baidu

O-Van-Dap-Tuyet-28Ha-My-2c-baidu-29.jpg
Ngựa Ô Vân Đạp tuyết. Ảnh: Baidu
1. Ngựa Xích Thố
Trong số những con ngựa nổi tiếng thời cổ đại, đầu tiên phải nhắc đến Ngựa Xích Thố thời Tam Quốc. Con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, tuyệt không có một sợi lông tạp, ngày đi ngàn dặm, trèo non vượt suối dễ dàng. 
Ngựa Xích Thố từng qua tay rất nhiều chủ. Chủ nhân đầu tiên của Xích Thố là Đổng Trác (132-192), tướng nhà Đông Hán (năm 25-220). Trong triều đình lúc bấy giờ, có rất nhiều người khinh thường con người tàn bạo như Đổng Trác, trong đó có Đinh Nguyên, cũng là một tướng nhà Đông Hán. Trong một lần họp triều, Đinh Nguyên đã chửi thậm tệ vào mặt Đổng Trác, Đổng Trác định chém Đinh Nguyên thì con nuôi của Đông Nguyên là Lã Bố từ phía sau xông lên, khí chất anh hùng của Lã Bố đã khiến cho Đổng Trác sững lại, đành phải nhượng bộ. Từ đó, Đổng Trác nảy sinh ý định thu phục Lã Bố.
Vì muốn tiếp cận và thu phục Lã Bố, Đổng Trác đã đem Xích Thố tặng cho Lã Bố. Lã Bố sau khi có được ngựa quý quả nhiên đã giết chết chủ cũ của mình là Đinh Nguyên, quy phục dưới chân Đổng Trác, và trở thành con nuôi của Đổng Trác.
Ngựa Xích Thố đã cùng Lã Bố chinh chiến khắp nơi. Trên chiến trường, ông chuyên cưỡi ngựa Xích Thố, như một mãnh hổ tả xung hữu đột, vạn người không địch nổi. Sau này, Lã Bố bị  trúng kế của một đại thần nhà Đông Hán, giết chết Đổng Trác. Sau đó Lã Bố bị Tào Tháo giết, ngựa Xích Thố thuộc về Tào Tháo, một nhà chính trị, quân sự kiệt xuất cuối thời Đông Hán.
Có lẽ do duyên số, Quan Vũ hay còn gọi là Quan Vân Trường, một trong những người có công lớn thành lập nhà Thục Hán vào thế kỷ thứ 2, vì muốn bảo vệ hai vị phu nhân của người anh em kết nghĩa của mình là Lưu Bị đã tạm thời về phe Tào Tháo. Tào Tháo vô cùng quý mến nhân tài như Quan Vũ, cũng muốn bắt chước Đổng Trác tặng ngựa cho anh hùng.
Nhưng Quan Vũ không như Lã Bố, ông tiếp nhận Xích Thố là để tìm được Lưu Bị nhanh hơn. Sau khi Quan Vũ bị giết, Xích Thố lại rơi vào tay một viên tướng nhà Thục Hán khác là Mã Trung. Nhưng lần này nó không còn ngoan ngoãn đi theo chủ nhân mới như trước, mà tuyệt thực đến chết.

2. Ngựa Tuyệt Ảnh
Ngựa Tuyệt Ảnh là ngựa yêu của Tào Tháo (155-220). Tuyệt Ảnh có nghĩa là phi rất nhanh, đến cái bóng cũng không đuổi kịp được.
Tương truyền, khi Tào Tháo tấn công Trương Tú, Trương Tú dâng thành đầu hàng Tào Tháo. Trương Tú là cháu gọi Phiêu kỵ tướng quân Trương Tế bằng chú. Sau khi Đổng Trác bị giết năm 192, Trương Tế cùng các tướng khác của Đổng Trác mang quân đánh vào Tràng An, lại nắm vua Hán Hiến Đế, thao túng triều đình như Đổng Trác trước đây. 
Tuy nhiên, Tào Tháo không ngờ lại bị trúng kế của kẻ thù, bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp, suýt nữa thì bị mất mạng. May có ngựa Tuyệt Ảnh mới thoát được ra ngoài.
Ngựa Tuyệt Ảnh bị trúng ba mũi tên trên mình mà vẫn cất vó phi nước đại, sau đó bị trúng một mũi tên vào mắt mới gục ngã. Trong trận chiến này, Tuyệt Ảnh đã hoàn tất sứ mạng của mình.
Đây là một thất bại nữa của Tào Tháo kể từ sau trận Xích Bích. Trong trận đánh này, Tào Tháo bị mất một con trai, Tào Ngang, một cháu trai, Tào An, và một con tuấn mã, Tuyệt Ảnh. Có thể nói đây là một thất bại thảm hại của Tào Tháo.

3. Ngựa Đích Lô
Đích Lô vốn là ngựa của Trang Vũ, vốn là một tướng của một danh sĩ dòng dõi hoàng tộc nhà Hán là Lưu Biểu nhưng sau này phản bội lại Lưu Biểu. Lưu Bị (người sáng lập ra nhà nhà Thục Hán) bị thất bại trong trận giao chiến với Tào Tháo nên về đầu quân cho Lưu Biểu vì hai người cùng trong hoàng thất, đợi thời cơ làm lại sự nghiệp. 
Lưu Bị nhìn thấy ngựa của Trương Vũ cho rằng đây là một con tuấn mã, liền hết lời ca ngợi rằng "con ngựa này chắc chắn là ngựa thiên lý". Tướng của Lưu Bị lúc đó là Triệu Vân  lập tức hiểu ngay ý của chủ nhân, liền giết chết Trương Vũ để cướp ngựa. Triệu Vân là danh tướng thời cuối Đông Hán và thời Tam Quốc, người góp công lớn thành lập nhà Thục Hán.
Khi Lưu Biểu nhìn thấy con ngựa này cũng khen không ngớt lời. Lưu Bị đang không biết lấy gì để báo đáp Lưu Biểu liền tặng con ngựa này cho Lưu Biểu. Không ngờ, Lưu Biểu lại thấy con ngựa này "có quầng mắt, trên đầu có những đốm trắng, lại tên Đích Lô, ắt là con ngựa sát chủ", còn nói rằng "Trương Vũ cưỡi con ngựa này bị chết" chính là minh chứng, nên vội vàng tìm cớ trả lại cho Lưu Bị.
Người hầu của Lưu Bị đem tin "ngựa sát chủ" nói cho Lưu Bị, nhưng Lưu Bị không tin. Sau đó, khi nhận được mật báo có người định sát hại, Lưu Bị vội vàng thoát ra ngoài, cưỡi ngựa Đích Lô chạy trốn, nhưng bị nhầm đường, ông chạy đến bên suối Đàm Khê.
Phía trước là con suối rộng lớn, phía sau là quân địch truy đuổi, lúc này Lưu Bị mới nhớ đến lời khuyên "Đích Lô sát chủ" ngày trước, ông vừa điên cuồng quất vào lưng ngựa, vừa hét: "Đích Lô! Đích Lô! Hôm nay mày hại ta đi!". Đích Lô bỗng nhiên vùng lên, phi một phát sang bờ bên kia, lập một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử. Sau đó, Lưu Bị càng không tin chuyện "Đích Lô sát chủ" , ông càng yêu quý con ngựa đã cứu mạng mình này hơn.
Khi đem quân đi đánh nước Thục, thấy ngựa của Bàng Thống, một trong những mưu sĩ của Lưu Bị, già yếu quá, nên để thể hiện sự trọng dụng của mình với Bàng Thống, Lưu Bị đã đem ngựa yêu của mình tặng cho Bàng. Ai ngờ Bàng Thống không có phúc được hưởng, vừa mới cưỡi lên Đích Lô đã bị kẻ địch tưởng nhầm là Lưu Bị nên bắn chết. Sau này ngựa Đích Lô cũng không rõ lưu lạc về đâu.

4. Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử
Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử toàn thân lông trắng như tuyết, tương truyền một ngày có thể đi hàng nghìn dặm. Ngay từ khi mới sinh ra phía dưới cổ đã có một hàng lông dày, trông giống như sư tử, tính khí nóng nảy, sau này lớn lên tính khí bớt nóng nảy hơn, buổi tối con ngựa này còn phát ra ánh sáng trắng bạc, vì vậy mới có tên là Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử . 
Con ngựa này của Triệu Vân, sống vào khoảng thế kỷ thứ hai. Tương truyền, Triệu Vân đóng quân ở trên núi Trường Bản xuất quân đi đánh trận đều cưỡi Dạ chiếu ngọc sư tử, có lần Triệu Vân cùng ngựa bị rơi xuống hố bẫy sẵn của quân địch, tưởng chừng không thể thoát thân. Nhưng sức ngựa rất lớn, cuối cùng cũng nhảy được lên trên miệng hố, cứu chủ nhân thoát chết. Trong bộ tiểu thuyết Thủy hử cũng từng nhắc đến con ngựa này.

5. Ô Vân Đạp Tuyết
Ô Vân Đạp Tuyết còn có tên là Vương Truy Mã, sống ở thế kỷ thứ hai, toàn thân màu đen nhưng bốn vó màu trắng. Đây là ngựa của Trương Phi, người anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Quan Công, được coi là anh hùng tuấn mã.
Ngựa của Trương Phi có tên rất ý nghĩa, Vương Truy Mã có nghĩa là con ngựa đi theo hầu hạ Đại Vương. Tương truyền Trương Phi và Ô Vân Đạp Tuyết đều đen như nhau. Trương Phi quý chú ngựa này như con đẻ, thường xuyên tự tay tắm rửa cho ngựa quý. 
Người đời về sau thường nói người dũng mãnh cưỡi ngựa dũng mãnh. Quan Công từng nói: "Người tôi nặng nề, ngựa không vác nổi nên thường hay gầy, chính vì vậy mà tôi không thể cưỡi ngựa bình thường được". Trương Phi cũng như vậy, ngựa bình thường thì không thể xứng với hào khí phi thường của Trương Phi được.
Hà My (Theo Baike)

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

DINH THỰ CÔNG TỬ BẠC LIÊU

Đầu năm, chiêm ngưỡng dinh thự Công tử Bạc Liêu 
Sau nhiều năm trùng tu, cụm dinh thự Công tử Bạc Liêu - người ăn chơi nổi tiếng khắp Nam Kỳ đã mở cửa đón hàng chục nghìn khách du lịch đến tham quan trong những ngày Tết.
Ông Tô Huy Phong, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Thương mại- Dịch vụ và Du lịch Cẩm Quyên (Bạc Liêu) cho biết, doanh nghiệp đã được lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu giao làm chủ đầu tư công trình trị giá 400 tỷ đồng này. 
Ngoài việc trùng tu, tôn tạo 19 hạng mục gồm: dinh thự Công tử Bạc Liêu, nhà hát với nhau, nhà dạ hội, nhà rường, các khu ẩm thực... ra, ông Phong còn cất công sưu tầm được 42 hiện vật được cho là của Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (1900 - 1973) do các nhà sưu tập trong và ngoài nước lưu giữ.
Ông Trần Trinh Huy là con trai của Hội đồng Trần Trinh Trạch.
Dinh thự Công tử Bạc Liêu được xây dựng vào năm 1919 theo thiết kế của một kỹ sư người Pháp. 
Toàn bộ vật liệu xây dựng ngôi nhà như sắt, xi măng, gạch, ngói… đều được vị kỹ sư người này đích thân tuyển chọn và mang từ Pháp về.
Hiện Công ty Cẩm Quyên đang mở rộng đầu tư để khu dinh thự Công tử Bạc Liêu trở thành điểm du lịch hấp dẫn, độc đáo nhất ở miền Tây.
Cụ thể, công ty cho xây dựng thêm 16 phòng khách sạn đẳng cấp quốc tế, các phòng này sẽ được lát bằng vàng Ý, cùng nhiều trang thiết bị cao cấp.
Ngoài ra, công ty còn cho xây dựng thêm một cụm khách sạn, resort, nhà rường nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn 5 sao với hơn 250 phòng cùng nhiều hạng mục vui chơi, giải trí khác.
Chùm ảnh dinh thự Công tử Bạc Liêu:

Nhà Công tử Bạc Liêu

Ngôi nhà tọa lạc ngay cạnh bờ sông Bạc Liêu.

Bộ ván với chỉ một mảnh gỗ duy nhất 
Một chiếc bàn uống trà 
 Chiếc gậy của Công tử Bạc Liêu
 Di ảnh "Công tử Bạc Liêu" Trần Trinh Huy và vợ là bà Ngô Thị Đen
được treo ngay trên tầng 2 gian thờ của ngôi nhà.
Chiếc giường trị giá trên 7 tỉ
 Rất nhiều du khách đến dinh thự Công tử Bạc Liêu trong dịp Tết
 Ông Trần Trinh Đức - con trai Công tử bạc Liêu
Bộ trường kỷ 
Xe hơi 
 Xe kéo
Xe kéo công tử.

Xe kéo công tử.
Bộ bàn ghế khi xưa "Công tử Bạc Liêu" từng ngồi.

Tivi...


Đồng hồ

Máy nghe nhạc, máy nghe băng casett

Giường nóng lạnh đều toát lên vẻ sang trọng của gia đình giàu có bậc nhất Nam kỳ lúc bấy giờ.
Giường nóng lạnh đều toát lên vẻ sang trọng của
gia đình giàu có bậc nhất Nam kỳ lúc bấy giờ.


Hàm Yên

Xem thêm về Công tử Bạc liêu

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

MÍA TẾT

truyennganmoi

Tác giả: Trang Đài-Trần Nguyễn


 Tết cũng là mùa ươm mía. Đám mía này sắp bán được, thì chuẩn bị trồng đám mía mới.  Cho nên cái khoảng mấy tháng giữa hai mùa mía là chúng tôi nhớ mía nhất.  Gò nhà Ngoại đất rộng, nên Dì Thơ và Dì Hiền cứ xoay tua, trồng cà, bắp, mía, chuối, đậu xanh… để giữ đất.  Miếng gò này năm nay trồng mía, năm sau trồng bắp, đất không bị chai.
Gần Tết, hai Dì đi xuống chợ, vô vựa mua mía giống.   Hồi đầu, Dì Thơ trồng mía lau để bán cho mấy hãng làm đường.   Sau này, Dì trồng mía thanh dịu, bán cho người ta ăn, tụi nhỏ cũng được hưởng ké.   Tết mà có ít cây mía thanh dịu để xướt thì khỏi chê.  Có năm, cả đám kéo nhau ra gò mía, ngồi giữa đám mía, rồi đi ruồng xung quanh, lựa cây nào ngon bẻ ăn tại chỗ.  Gió chướng thổi loạt xoạt từng cơn như khúc nhạc giao hưởng bất tận.  Nắng óng ánh rót mật xuống áo quần, đầu tóc hoa niên.  Mía thanh dịu vừa mềm vừa thơm, ăn hoài mà không bị rát miệng.  Có đứa mê ăn mía quá, no luôn, không ăn cơm.   Nhưng thích nhất là cả đám ngồi với nhau, rỉ rả kể chuyện đời của con nít, xúm nhau cập đôi một đứa với đứa nào nó ghét nhất trong xóm, rồi cười nghặt nghẽo với nhau.   Sướng ơi là sướng.  Thường thì khi trồng đồ để bán, Ngoại luôn chọn đồ tốt để bán, để vui lòng người mua.  Ngoại hay nói mình nên ăn những cái không bán được, mà vẫn ngon, như những cây mía hơi ốm và tướng tá không bảnh bao, nhìn không đẹp nhưng ngọt và mềm.  Hay những trái bắp bên cao bên thấp nhưng ngọt lịm và thơm phức, đêm rằm nấu cả rổ, trãi đệm trước sân, vừa ngắm trăng, vừa nghe vạc sành kêu, vừa ăn bắp, có khi không muốn ngủ.  Có khi Ngoại thấy trái bắp nào ngon quá, hay cây mía nào mộng quá, cũng để dành cho cháu.  Còn Mồng Một Tết thì xả dàn! Một năm chỉ có một ngày để hưởng những gì ngon nhất!
Trồng mía lau thì đỡ công chăm sóc, bán cũng có tiền vì lúc đó, cả nước thiếu đường.  Đường cát trắng là xa xí phẩm, nhiều khi Dì Thơ đi kiếm mua để Ông Bà Ngoại uống cà phê mỗi sáng mà cũng không có, phải mượn bạn hàng mua dùm từ trên Sài Gòn đem về.  Dì Thơ luôn chuộng hàng chất lượng, nhất là khi mua đồ cho Ông Bà Ngoại.  Dì không ngại tốn tiền, miễn là Ông Bà Ngoại được hưởng những gì xứng đáng nhất, như Ông Bà đã có trước cuộc đổi đời.  Không lấy chồng, không có con, nên Dì thương và lo cho cả bầy cháu.  Có bánh ngon là Dì mua cho ăn, miễn là lúc đó Dì còn tiền.  Lúc nào túng bấn quá, thì Dì cũng dành dụm mua đường, xay bột, rồi tự tay làm bánh cho tụi tôi ăn.  Dì làm bánh mức và nấu ăn rất khéo. Ở nhà, Dì giống Bà Ngoại nhất, từ khuôn mặt đến tính tình, và giống nhất là ở chỗ hai người nấu ăn rất ngon. Mẹ nói, Ông Ngoại cưng Dì Thơ nhất là tại Dì giống Bà Ngoại như đúc. Dì Thơ lại rất hiếu thảo.  Nhiều khi chỉ vì đi mua một kí đường cát trắng để pha cà phê cho Ông Bà Ngoại, mà Dì Thơ phải đi giáp cả chợ, nhưng rốt cuộc hỏi hết mấy sạp đường mà cũng không ra.  Nấu ăn thì xài đường tán, màu vàng nâu, thơm thơm, người ta đóng cục hình bầu dục.  Mỗi lần Dì Thơ mới mua đường về, là tụi tôi dắt nhau lén đi ăn vụng, nhất là mùa hè, khi ai nấy cùng về Ngoại chơi.  Hình như sau đó thì bịch đường mất sự nhiệm mầu của nó, hay vì chúng tôi mắc theo đuổi những cái thú khác của tuổi thơ cũng không biết.  Chỉ cần lấy một cục đường, rồi cả đám kéo ra đống rơm, hay chạy ra bờ sông, ngồi rạp với nhau trên cỏ.  Mỗi đứa cắn một cái, rồi chuyền đi.  Đường ngọt, nên cuộc đời cũng ngọt theo.  Ngon cách gì!


Hai Dì mua mía xong thì đi mướn ghe trong xóm chở về.  Mình chỉ hẹn người ta xuống gặp mình ở vựa mía, rồi coi họ chất mía lên ghe đàng hoàng.  Ghe đi rồi, thì mình mới đạp xe đi đường ổ gà và đường bờ con để về.  Có lần, Dì Thơ cho tôi theo ghe đi đón mía.  Chỉ được theo ghe lúc đi đón thôi, khi ghe còn trống, vì khi về thì ghe phải chở mía, tôi ngồi băng sau của xe đạp đeo eo của Dì mà về.  Lúc đi trên sông thanh vắng, ngắm cảnh.  Lúc về phố xá náo nhiệt, ngắm người.
Lần đầu tiên được đi ghe, háo hức lắm. Tôi mê mẩn ngồi ở đầu ghe, ngó những hàng dừa nước hai bên bờ sông xanh mướt, ngó thấy con sông thông với những liếp ruộng bạt ngàn. Phèn mùa này khắn vô đất, vì là mùa khô. Những thửa ruộng ở xa trông vàng rực như ráng chiều. Giữa những tàu bập dừa mũm mĩm, tôi thấy lưng người nhấp nhô trên những mảng ruộng xa xa. Chắc họ đang trở đất, chuẩn bị cho mùa lúa sau.  Có chỗ, người ta đang đốt đồng, khói trắng lượn lờ giữa khoảng xanh.  Thấp thoáng bên kia là những cây bần già, gốc cây sần sùi nhiều nấn như một bức tượng điêu khắc.  Chim chóc ríu rít quanh sông. Tiếng con bìm bịp là lớn nhất. Nó bay là đà trong đám dừa nước, miệng liên hồi kêu nước sông lên. Hồi đó, nhà cửa còn thưa thớt, đứng ở xóm này nhìn thấu mấy xóm xung quanh.  Mẹ nói lúc nhỏ, Mẹ chỉ cần leo lên cây me ở chỗ đìa lạng, là nhìn rõ ra tuốt tới đường cái.  Bữa nào Mẹ với mấy cậu mấy dì mà phá cái gì, thì cứ thay phiên nhau leo lên cây me để coi Ông Bà Ngoại đã về gần tới chưa.  Tới thời của tôi thì không còn cái lợi thế đó nữa, vì nhà cửa bắt đầu mọc lên, và người ta cũng trồng cây quanh nhà, cản mất luồng trinh thám của những đứa trẻ cần thông tin quan trọng nhằm quyết định có thể kéo dài hay phải dập tắt cuộc phá phách.
Tôi phóng tầm mắt về phía trước. Nắng chiếu lóng lánh trên mặt nước, bàng bạc, lung linh.  Chiếc ghe cứ từ từ đi tới, có lúc rẽ theo nhánh sông này, có lúc xuôi theo dòng nước nọ.  Người chủ ghe chèo quen tay, ghe đi êm ru.  Xa xa, mấy con cá há miệng đớp mấy con bọ nước ở trên mặt sông, kêu bũm bũm.  Có con đang tập khinh công, ưỡn mình trên không rồi rớt ùm xuống nước.  Tôi ráng nhìn coi đáy sông nông hay cạn, mà không cách chi biết được, vì nước sông không trong vắt, mà lờ lợ vì có phèn và phù sa.  Vùng đất này ngày xưa có lẽ là một phần của đại dương. Khi chơi trong gò nhà Ngoại, tôi thường lượm được nhiều vỏ sò thật đẹp và lạ mắt, không thấy ở đâu khác trong vùng. Chắc vì Ông Bà Cố khai hoang đã mấy chục năm trước, nhưng giữ miếng đất này như hồi mới tới, nên trong đất còn giữ được di tích cũ.  Các nơi khác, người ta xây nhà, hoặc đào lên làm ruộng, dần dần cũng xoá hết vết tích ngày trước, hoặc bị nước sông cuốn đi mỗi bận nước ròng.  Phải chăng chính đại dương đã trồi lên, nước biển về trời, để tặng cho con người miền đất trù phú an hoà này?


Ngó mông một hồi thì tôi thấy nhức đầu.  Không biết say ghe hay say nắng.  Chiều đó, khi cạo gió cho tôi, Mẹ nói tại tôi bị say sóng, giống Mẹ. Tôi không chịu.  Tôi bị say ‘sông’ chứ không phải say sóng, vì ghe chỉ đi trong những con sông nhỏ nước lợ của quê tôi, chứ có ra biển đâu mà có sóng.  “Ờ, thì có cái gì mà con không biết. ” Mẹ giả đò nói vậy, để tôi ngồi yên. Tôi sợ sâu, sợ bóng tối, không sợ ma lắm, như sợ hơn cả là cạo gió.  Mẹ nói tôi như con sâu đo, dúm người lên, không cạo được.  Có nhiều lúc tôi trúng gió nặng, gió đỏ rừ, cạo tới đâu nổi dề tới đó, mà cứ dúm người, Mẹ bực quá, đét vô đít tôi một cái, nhưng tôi vẫn cứ dúm.  Mẹ sanh tôi ra vậy, đâu phải tại tôi.
Ghe về tới mé sông, thì chủ ghe tấp vô bờ, rồi đi băng gò vô kêu Dì ra lấy mía. Dì Thơ đã chở tôi về tới nhà cả nửa tiếng rồi.  Đi ghe thì lâu hơn đi xe đạp, vì ghe mía nặng, chỉ có một người chèo, mà phải đi vòng chứ không đi tắt được như đi bộ.  Đàn ông trong nhà xếp hàng ra vác mía, mỗi bó chừng chục cây dài ngoẵng, đem chất vô mé hè. Chiều đó, đàn bà xúm vô chặt lấy mắc mía, bỏ vô bao bố, đem ngâm dưới đìa cho nó lên mộng. Đàn ông thì đi mần cỏ ngoài gò, lên liếp để đặt mía xuống dưới rãnh.  Ban đầu khi đặt mía, thì phải đặt ở dưới rãnh để tưới nước cho nó mau lớn.  Khi mía lớn rồi, thì mới vô chân mía, giữ cho gốc mía được chắc, vì cây mía thì cao và thon, nếu gốc không vững thì sẽ ngã, cây không lớn đều mà cũng không mạnh, lại cong queo, sau này cũng khó chặt để bán.  Mỗi tuần lại phải đánh lá mía, để cây mía vượt lên, và đám mía không bị rậm. Có nắng thì mía mới ngon và mới ngọt.  Dì Thơ và Dì Hiền làm gì cũng công phu hơn người ta.  Không ai trồng mía mà tỉ mỉ như hai Dì, nhưng nhờ vậy mà mấy người lái mía thích mua mía nhà Ngoại. Nhất là hai Dì làm ăn lúc nào cũng thành thật và nghĩ tới người khác.
Khi người lớn chặt mía, thì bầy con nít xúm quanh hôi của, lượm lóng mía đem vô rửa rồi xướt, hoặc đứa nào theo thủ tục thì lấy dao thớt ra róc, chặt cục nhỏ.  Nhưng chỉ có đứa nào dại mới làm theo thủ tục.  Lấy dao thớt ra tới thì tụi kia đã ăn hết nửa rổ rồi.  Mà ngồi xúm một đám, vừa xước mía, vừa nói chuyện rổn rảng, mới thích.  Con nít quê nghèo, chỉ cần một rổ mía lóng là đủ thành tiệc.  Miễn là chịu ngồi chơi với nhau. Đánh lộn, giận lộn như cơm bữa.  Nhưng có mía lóng thì ngu gì mà giận.  Giận lẫy xẩy cùi. Đứa nào giận, ngồi riêng, thì khỏi vui, khỏi xướt mía.  Dễ ợt!
Đang ăn thì thằng Tỉn kêu lên, “Coi kìa!” Cả đám nhìn lên.  Lần nào cũng vậy, hễ thấy con Ít, con của bà Sáu Bún ở xóm trên trờ tới đầu đường, là tụi tôi xúm nhau bưng rổ mía lóng đem cất, dù đang ăn ngon lành.  Con nhỏ này, tuy vai vế thì tụi tôi phải kêu bằng chị, nhưng không đứa nào thèm thí cho nó một tiếng chị bao giờ.  Nó thấy cái gì được mắt là xin, xin không ngại ngùng, xin không cân nhắc. Nó mở miệng, là Bà Ngoại cho, còn tụi tôi thì chưng hửng, không dưng bất ngờ mất của mất vui. Lần nào chặt mía, nó cũng mò xuống.  Ở đây ai cũng đi bộ hay đi xe đạp bằng đường bờ con, nên lúc gặp nhau trên đường, hay nói chuyện trong xóm.  Ghe mía về tới bờ sông nhà Ngoại thì trên xóm trên, con Ít cũng biết. Nó rành thời khoá biểu mua mía, đón mía, chặt mía, ngâm mía của nhà Ngoại từ lâu. Khi chặt mía, nó sẽ có mặt để xin mía lóng.  Con Ít chưa lớn mà đã thích điệu, đi cà vẹo cà vẹo từ ngoài sân vô, rồi đon đả:
- Thưa Bà Bảy!
- Ít đó hả con? Vô nhà chơi, con. Mấy đứa nhỏ, lấy mía ra cho chị Ít ăn coi nè.


Chúng tôi nhìn nhau ngán ngẩm. Giấu rồi mà cũng không yên.  Chúng tôi đặt tên cho con Ít là ‘cán bộ cấp cao’ – nói theo mật mã là ‘cờ bờ cờ cờ’ và phải nhăn mặt, lắc đầu khi nói – vì lần nào nó tới, chúng tôi cũng bị nó tịch thu cái gì đó.  Nó tịch thu bằng ánh mắt.  Nó chỉ cần nhìn cái gì một cái, thì Bà Ngoại kêu tụi tôi cho liền.  Tôi nghe trong ca dao, người ta hay nói, “Con mắt em sắc như là dao cau. ” Chắc là nói con mắt của con Ít.  Mắt nó nhìn một cái, là cắt đứt mối quan hệ sở hữu giữa chúng tôi và đồ đạc của chúng tôi. Sắc như vậy mới sợ chứ.
Lần này cũng không thoát. Cả đám vừa nê rổ mía lóng ra tới, con Ít sà vô liền. Rồi nó buông rổ đứng lên. Tụi tôi tưởng lần này nó biết chuyện, hí hửng trong bụng.  Nó nói với Bà Ngoại tôi một câu gọn hơ:
- Bà Bảy cho con đem dìa cho Má con ăn nghen.


Bà Ngoại ừ cái cốc, cũng gọn hơ. Cái chiêu này thì tụi tôi không ngờ tới, nên không phản ứng kịp.  Rổ mía nặng vậy, mà con Ít xốc lên, bưng một bên hông, càng gọn hơ.  Nó đi xăm xăm ra tới ngoài sân rồi mà mấy đứa còn đứng ngó nhau như trời trồng. Tưởng chỉ phải tạm thời ngưng ăn thì mất ngon thôi, nào ngờ mất luôn của. Mọi việc diễn ra trong vòng vài cái chớp mắt. Diễn ra một cách gọn hơ. Mấy lần trước, con Ít lựa hết lóng ngon đem về. Nó lựa lóng nào mập mà da sậm, nghĩa là lóng ở phía dưới gốc, ngọt hơn, nhiều nước hơn.  Nó đi rồi là tụi tôi xúm nhau lượm những lóng còn lại lên, rồi liệng trở xuống, vì toàn lóng trên ngọn, lạt nhách, có gì ngon mà ăn! Lần này thì tới cái rổ cũng không còn, nói chi là mía ngọn. Phải rồi, má nó là cháu, kêu Ngoại bằng dì.  Nó xin cho má nó thì làm sao Ngoại hổng cho! Mỗi lần nhà bị công an xã xét, họ lấy đi cái gì, tụi tôi cũng buồn theo người lớn, nhưng rồi ra sông tập bơi, đi tắm đìa, đi hái ổi, ra rẫy bắt còng, một chút là quên.  Những thứ bị mất đi tuy quý giá, nhưng không mang đậm ý nghĩa đối với cuộc đời thơ ngây của chúng tôi.  Chuyện đó để người lớn lo.  Nhưng bữa nay, chỉ có rổ mía lóng này để huyên náo.  Rổ mía đi rồi, cả đám như con lật đật bị đứt dây thiều.
Mía ngâm chỉ ít ngày là chất đường lên men, thịt mía đỏ au, có mùi nồng nồng. Ở mắt mía, cái mộng tròn u, đẩy lên một cục. Người lớn đem những mắt mía đã lên mộng ra đặt vô những cái liếp đã cuốc sẵn mấy bữa trước.  Ghim mía xuống xong, thì mọi người xúm nhau, mỗi người một cái đòn gánh, gánh hai cái thùng có bông sen, lội xuống đìa gánh nước lên, ria tưới cả hai hàng mía cùng một lúc.  Cái thùng bằng nhôm hình chữ nhật, có cái vòi đưa về phía trước khá dài.  Nước trào ra vòi sen, tuôn xuống trên rãnh mía, kêu rào rào, như lời thăm hỏi.  Đất mịn mở tung da thịt, đón nước vào để nuôi mía.  Mặt trời lững thững bò xuống khỏi chân trời phía xa, nhắm mắt. Ở xóm bên, tiếng ai kêu vịt chiều “chuốc chuốc chuốc” từng hồi.

SANG GIÊNG

Tác giả: Lê Nhuệ Giang

Sang giêng ...đi chợ Cầu May
Ừ mua, ừ bán, ừ say, ừ...liều!
Sang giêng, đến hội tình Yêu
Bông hồng ơi! nói hộ điều làm tin
Sang giêng, đùm dúm về Lim
Nghe câu Quan họ nổi chìm sông mơ
Sang giêng, phấp phỏng đợi chờ
Nguyên tiêu hò hẹn ngâm thơ lẩy Kiều
Sang giêng, khăn thắm yếm điều
Dao cau sắc lẻm ... câu chèo vào xuân
Sang giêng ươm kén chăn tằm
Ao thêm lựa cá, trồng dăm dàn trầu
Mẹ về thửa mấy buồng cau
Sang giêng, ngày đẹp, ướm câu định lời...
Tháng giêng ... là tháng Giêng ơi!
Bao nhiêu xin cứ ... để rồi ... sang Giêng!...

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

NHỚ...THỜI BAO CẤP

Lê Chí Trung
Nhớ ... thời bao cấp

Bây giờ mà thở ra nhớ thời bao cấp không khéo có người lại bĩu môi cho mình là cái nhà ông Lý Toét dở hơi cám lợn... Ờ, nhân nhắc đến từ “Lý Toét” mới thấy cuộc đời này ngày càng lắm Lý Toét, với cái kiểu trùm chăn lên lớp con cháu: giờ chúng mày sướng lắm rồi, đầy đủ lắm rồi, nếu so với thời đói rách của tụi tao... Hừ. Thật buồn cười. 

Trong thời đại bùng nổ về phát triển, những bước tiến chóng mặt của khoa học kỹ thuật vừa ngày càng kéo gần khoảng cách giữa con người trên trái đất, vừa ngày càng đưa nhân loại tiến xa hơn vào vũ trụ, vậy mà loại tụt hậu như anh, đi bộ được vài mươi bước đã bảo là sướng lắm rồi?...
Có thể mình cũng giống ông Lý Toét thật, ngồi quán cóc Sài Gòn những ngày sắp đón năm mới Giáp Ngọ, bỗng nhớ thiết tha thời bao cấp.
Ôi, có rất nhiều chuyện ở thời bao cấp mà mỗi khi hồi tưởng lại không khỏi ngán ngẩm tự hỏi “lẽ nào đó là những gì mình đã trải qua?”. Ngay giữa thủ đô Hà Nội, suốt mấy chục năm từ 1960, khắc vào ký ức cuộc sống đô thị là cảnh người ta hau háu chen chúc, thậm chí cãi vã nhưng vẫn tuân thủ việc xếp hàng, bằng rổ rá rách hoặc bằng một cục gạch vỡ đôi, để mua mỗi người một lạng thịt tiêu chuẩn hàng tháng, lại còn bị mấy bà mậu dịch viên vênh mặt quát tháo như chủ quát đầy tớ... 
Rồi thì cảnh lọ mọ dậy từ hai ba giờ sáng, chen lấn xếp hàng để gánh được mỗi nhà một gánh nước máy chảy ri rỉ ở vòi nước công cộng... Cảnh nhăn nhó bấm bụng xếp hàng chờ đến lượt được chui vào nhà xí công cộng (vừa hôi vừa dơ) ở các khu tập thể trước giờ đi làm buổi sáng... 
Những cảnh bây giờ nhớ lại thấy buồn cười hơn là chua xót. Chẳng nói đâu xa, ngay ở cái phố ngoại ô nhà tôi thuộc quận Ba Đình hẳn hoi đấy nhưng rất nhiều gia đình không có nổi cái nhà xí, phòng tắm trong nhà. Nhớ những ngày hửng nắng trong mùa đông dài rét mướt, đám trẻ con phố tôi con gái con trai tồng ngồng hứng nước tắm giữa sân cho đỡ phải xách vào nhà vừa xa vừa sợ nước mất hơi ấm...
Thời ấy ai cũng biết rằng cuộc sống của mình quá khổ, nhưng xung quanh mình ai ai cũng đều sống như vậy, không còn cách nào khác để tồn tại, để chia sẻ tình cảm mến thương với đồng bào miền Nam, để sẵn sàng hi sinh tất cả cho tiền tuyến trong cuộc chiến đấu giải phóng đất nước. Đã có một thời bất thường như thế trong dòng chảy lịch sử của một đất nước luôn phải vùng dậy, đứng lên trước những cuộc chiến tranh xâm lược của những nước lớn tự cho mình cái quyền bành trướng thiên hạ.
Tôi không phải là nhà chính trị, càng không muốn biện minh hay thi vị hóa sự hỗn mang nghèo đói của cái thời bao cấp đói kém, khốn khổ ấy, nhưng đúng là đất nước này thời ấy không còn con đường nào khác để xông tới đương đầu với những cuộc chiến tranh bất khả kháng, để được trở thành một quốc gia độc lập.
Cuộc sống luôn có được và mất. Giờ đây có rất nhiều điều, mà nếu bình tâm hơn, ta lại thấy con người và bộ máy công quyền chưa chắc đã đẹp hơn cái thời bao cấp. Ngày ấy gần như không có quan tham nhũng nhiễu người dân, không có những vụ tham ô gây thất thoát công quỹ tương đương thu nhập bình quân một năm của cả mấy chục ngàn gia đình người lao động... Quá lắm cũng chỉ có vài anh cán bộ tham nhũng vặt, bớt xén vài cân đường, hộp sữa. Con người thời bao cấp ấy sống hiền hoà nhẹ tênh, không chà đạp lên nhau, chà đạp lên mọi giá trị, không cuống cuồng bất chấp tất cả để mưu cầu danh lợi.
Tôi biết, có những ông cán bộ cấp trung ương đã vừa không nhận quà biếu vừa mắng xa xả khi người thân quen được giúp đỡ đến nhà cám ơn. Có những bao thuốc lá tiêu chuẩn quý giá mà người hàng xóm tặng cho đám thanh niên lên đường ra trận. Có những thầy cô giáo, thầy thuốc, kể cả mấy anh công an khu vực... khi người dân cần đến họ đã luôn sẵn sàng phục vụ hết lòng mà không một cử chỉ, câu nói mưu cầu lợi ích. Thanh niên trí thức và cận trí thức thì mê mệt Ruồi trâu, Thép đã tôi thế đấy... bởi họ khát khao được sống, được dâng hiến đời mình cho sự nghiệp cao đẹp đấu tranh giải phóng con người như các nhân vật trong sách. Tất cả những cái đó phải đâu là sự u mê lý tưởng? Với chúng tôi đó chính là cái đạo làm người, là sự trong trẻo hơn tất cả những triết lý mang màu sắc tôn giáo, chính trị.
Mẹ tôi mất vào một trưa mùa đông năm 1968. Ngay từ sáng sớm bà đã bò ra khỏi giường bệnh, lén mua mấy gói xôi đi thăm hỏi mấy bà bạn già trong phố. Dường như bà linh cảm trước cái chết và không muốn ra đi không một lời từ biệt bạn bè... Lại có gia đình người mẹ của bạn tôi ở khu tập thể 3B Ông Ích Khiêm, quận Ba Đình, nhận nuôi con của bạn bè đi chiến trường với một lời cam kết tự nguyện, rằng từ bây giờ tôi có thêm đứa con thứ tư, nếu chẳng may anh chị không thể trở về từ cuộc chiến tranh khốc liệt thì tôi sẽ mãi mãi là mẹ của cháu. Hay là việc nhường nhau suất xe đạp phân phối quí như cái xe gắn máy đời mới bây giờ cũng chẳng phải là chuyện hiếm thời những năm sáu mươi, bảy mươi ấy. 
Những chuyện đối nhân xử thế kiểu này ngày nay hơi xa lạ, mà nếu kể ra không hợp ngữ cảnh người ta lại cho rằng mình ngụy tạo. Tôi cứ nghĩ vẩn vơ, không biết có được bao nhiêu con người hôm nay tự hỏi mình, ta đã sống ra sao cho cuộc sống này và liệu chúng ta đã tử tế hơn những gì tốt đẹp của ngày hôm qua mà đôi khi ta giễu cười trong tâm thức? Liệu có được bao nhiêu người trong chúng ta hôm nay băn khoăn khi chứng kiến cuộc chạy đua tỷ lệ nghịch giữa một bên tiện nghi vật chất ngày thêm chất chồng sau những quay cuồng, giành giật với một bên tâm hồn con người ngày càng teo tóp, nghèo nàn thảm hại? 
Ai cũng quen tặc lưỡi đổ thừa tất cả cho mặt trái của cơ chế thị trường để được vô can trách nhiệm. Khổ nỗi, cái trách nhiệm muôn đời về việc sống tử tế đâu chỉ đặt trước cửa các cơ quan công quyền, mà còn (và trước hết) ở mỗi thành viên trong xã hội. Sự suy thoái đạo đức ngày càng nghiêm trọng của xã hội hôm nay có phải do chúng ta chỉ dồn sức chạy theo các dự án chục tỷ, trăm tỷ, nghìn tỷ, mà xao lãng xây dựng nền móng đạo đức, lối sống ngay từ trong gia đình, ngay từ trong trường học và ngay từ những khẩu hiệu trên đường phố khiến cho chúng trở nên nhạt nhẽo, vô cảm?
Cuộc sống thời nào cũng vậy, ngoài cơm ăn áo mặc còn rất cần những giấc mơ và lòng tử tế để nuôi dưỡng tâm hồn. Sự lãng mạn của con người không chỉ gói gọn trong những chuyện “Hồn bướm mơ tiên”, cũng không phải thứ tình yêu da diết một chiều bất lực...  Nét đáng yêu nhất của sự lãng mạn phải chăng là khi con người được sống là mình, sống với chính mình - mà dường như đó lại là cái mà chúng ta đang thiếu?
Cà phê Sài Gòn cuối đông mà không có mùa đông, không có cái rét phong phanh cắt da cắt thịt như ở phương Bắc. Nhưng hoài niệm về sự co ro trong giá rét, giống như cái thời bao cấp ấy, vẫn có nhiều nét đẹp khó phai mờ trong tâm thức. Nhớ đấy một thời, chỉ xin đừng như cái nhà ông Lý Toét trùm chăn, hé mắt nhìn ra...
Người Đô Thị