Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2017
Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017
Chuyện về con Châu Chấu - Cào Cào
Món Châu chấu rang lá chanh
- quê tôi lại gọi là Cào cào rang lá chanh
Quê tôi làng Đún, xã Chi Lăng, huyện Hưng Hà, cũng như nhiều miền quê khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, người dân gắn bó với nghề nông, với canh tác cây lúa nước. Vì thế, mỗi vụ cấy trồng, con Châu chấu cùng với nhiều loài côn trùng khác, lại thi nhau sinh sôi nẩy nở phá hoại mùa màng.
Ngày xưa, vì chưa có thuốc trừ sâu, người nông dân “nhất cử lưỡng tiện”, đánh bắt Châu chấu để bảo vệ mùa màng; rồi lại dùng chính chúng làm món ăn khoái khẩu; nhưng tôi thấy, chỉ chế biến được mỗi món “Châu chấu rang lá chanh”.
Chế biến món Châu Chấu rang lá chanh:
Con Châu chấu đem chần nước sôi để mất mùi hôi, rồi rút đầu bỏ ruột, nhặt bỏ cánh, bỏ càng, rửa sạch, sóc chút muối để ráo nước.
Phi hành mỡ, cho Châu chấu vào đảo kỹ, sau cho nước dưa chua, mắm muối gia vị vừa đủ, khi sôi nên nhỏ lửa cho đến khô kiệt, Châu Chấu sẽ giòn tan có mùi thơm ngậy, màu sắc vàng rơm, bắc ra tra lá chanh thái nhỏ là ăn được.
Món Châu chấu rang lá chanh là món ăn dân giã có vị giòn tan, bùi ngậy và mùi thơm của lá chanh, được ví là món “Tôm đồng bay”, ăn với cơm gạo mới, rau muống chấm tương, thực là món ăn hấp dẫn ở quê nhà.
Đời sống của con Châu chấu và cách đánh bắt:
Con Châu chấu lúa, mỗi địa phương có cách gọi khác nhau; quê tôi lại gọi là “con Cào Cào”, nghe nói trong Nam Bộ người ta cũng gọi như thế? Tôi còn nhớ mãi, hồi giặc Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, lớp học chúng tôi có gần bốn chục anh, quê ở nhiều tỉnh khác nhau từ Quảng Bình trở ra; học viên nằm giường tầng, ở chung một nhà, đóng quân sơ tán tại Quán Hiệp, xã Liên Hiệp, Quốc Oai, Hà Tây. Có lần tôi nói: “Ở quê tôi gọi con Châu chấu là con Cào cào...”, thế là cuộc tranh luận nổ ra, ai cũng cho địa phương mình là đúng, không ai chịu ai; sau đề tài tranh luận lại chuyển sang: “Tất cả các loại cá con đều là con Tép...”. Sở dĩ, ở một số địa phương Bắc Bộ, gọi gộp cả những con cá nhỏ vào với con tép, con tôm (con), thành ra con tép, hay “mớ tép”.
Con Châu chấu - quê tôi lại gọi là con
Cào cào
Con Cào cào - Quê tôi lại gọi là con Châu
chấu
Đến nỗi, tôi phải “phớt Ăng lê ” rút lui ra ngoài không tham gia tranh luận nữa, xem máy bay chiến lược B52 từ căn cứ Ut apao ở Thái Lan bay qua Lào, qua Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây rồi vào đánh phá thành phố Hà Nội. Tiếng máy bay B52 nghe “ù ỳ, ù ỳ... ” nặng nề như tiếng cối xay lúa, vọng xuống từ trên “chín tầng mây”; tiếng máy bay phản lực như xé rách trời đêm... Đến gần nửa giờ sau, trận đánh kết thúc, tôi vào lại nhà mà cuộc tranh luận về “con Cào cào - Châu chấu” và “các con cá con đều là con Tép” vẫn chưa hạ hồi phân giải.
Con “Cào cào” hay “Châu chấu” là cách gọi của mỗi địa phương, không sai, nhưng dễ dẫn đến nhầm lẫn "ông nói gà, bà nói vịt"... Nhưng phải công nhận rằng, nói theo sách giáo khoa dậy vỡ lòng hồi tôi đi học, con Cào cào có đầu nhỏ và nhọn, con Chấu chấu có đầu to và tầy. Còn về mặt sinh học, con cá con không thể là con Tép, cũng theo sách dậy vỡ lòng trong bài: “Bà Còng đi chợ trời mưa / Cái Tôm, cái Tép đi đưa bà Còng …”, cái Tôm, cái Tép đi sau bà Còng được vẽ cùng một loài, chỉ to nhỏ khác nhau... Chả trách, giặc Tàu, giặc Tây rồi đến giặc Mỹ, thua ta là phải.
Con Châu chấu có hai loại: - Châu chấu lúa là loài nhỏ sống chủ yếu ở đồng lúa - Con Châu chấu Ngô hay còn gọi là Châu chấu Tre là loài lớn, thường có màu sắc sặc sỡ, chúng sống ở bụi tre, bụi lau sậy, bãi ngô..., ở châu Phi chúng bay rợp trời, tàn phá cây cối mùa màng, nên người ta còn gọi là “giặc Châu chấu”, rất tiếc loài này lại không thể ăn được.
Khi cây lúa đang thì con gái, Châu chấu phát triển mạnh nhất, chúng ăn lá non của lúa. Người nông dân đi đánh bắt Châu chấu từ sáng sớm tinh mơ, khi sương mai còn dăng dăng đậu trên ngọn lúa; họ dùng dậm (đánh cá) hay vợt lưới lớn chao nhanh trên mặt ruộng, chao từ phải sang trái rồi ngược lại, cứ như thế lần lượt cho đến hết thửa ruộng. Những đàn Châu chấu bị ướt đẫm sương đêm, đều dính vào dậm, vào vợt, rồi người ta đem Châu chấu chần vào nước sôi để mang ra chợ bán.
Con Châu chấu vụ này còn non tơ, thường gọi là Châu chấu “cốm”, cánh mới nhú, chỉ phủ được nửa thân. Các nhà tạo mẫu đã lấy ý tưởng “tơ, cốm ” của bộ cánh non mới nhú của con Châu chấu để sáng tạo ra bộ cánh ngắn duyên dáng của thiếu nữ, để hở chút lườn non cho thêm phần hấp dẫn. Con Châu chấu vụ này chưa trưởng thành, mình lép kẹp, rang ăn kém ngon.
Vợt bắt Châu chấu
Khi vào vụ gặt lúa chiêm và vụ gặt lúa mùa; con Châu chấu đã trưởng thành có bộ cánh dài, mình bóng bẩy béo múp, con cái chứa đầy bụng trứng, “cõng” con đực nhỏ hơn ở trên lưng, để kết đôi sinh sản, nên chúng bay nhảy chậm chạp. Vì thế, bọn trẻ con dùng vỉ ruồi đuổi đập tới tấp, bắt chúng cho vào chai. Bọn trẻ tinh nghịch hơn còn nghĩ ra trò “câu Châu chấu”: Chúng bắt một con Châu chấu cái buộc chặt vào đầu que, rồi đưa ra nhử những chàng Châu chấu đực “háu gái”, chúng nhẩy ngay lên dính chặt vào lưng con cái, vì thế mà bị bắt. Con Châu chấu vụ này to bằng đầu đũa, nhiều trứng, rang với lá chanh, ăn có vị giòn, bùi, ngậy chẳng kém gì tôm đồng; nên được ví là “Tôm đồng bay”.
Con Cà Cuống
Con Muỗm
Cũng vào vụ gặt, người đi gặt lúa còn tranh thủ bắt những con Muỗm, con Cà cuống về nướng làm quà cho bọn trẻ. Con Muỗm nướng thơm phức béo ngậy. Con Cà cuống nướng có tinh dầu thơm cay tự nhiên, nên thành ngữ có câu “Cà Cuống chết đến đít vẫn còn cay”, để ví những ai đã không làm được việc nhưng lại hay cay cú. Nước chấm pha tinh dầu Cà cuống, chấm với bánh cuốn Thanh Trì mỏng tang, cũng là món điểm tâm thanh tao của người Hà Nội xưa.
Ngày nay, người ta lại quay về ăn các món côn trùng như người Thái Lan, vì chúng rất sạch mà lại nhiều đạm, tránh được các bệnh về tim mạch và béo phì. Con Châu chấu, con Cào cào, con Muỗm, con Cà cuống… ở quê tôi gần như tuyệt chủng. Món Châu chấu rang lá chanh chỉ còn lại trong ký ức của những người cao tuổi. Cuộc tranh luận về “con Cào cào hay con Châu chấu” vì thế mà cũng phai nhạt dần, chẳng mấy ai buồn nhớ tới chúng nữa.
Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016
Hà Nội từng có 21 cửa ô
Người Hà Nội vốn chỉ quen với Ô Quan Chưởng, nhưng sử sách ghi xưa kia đô thị này từng có tới 21 cửa. Kiến trúc cửa ô phổ biến là cửa vòm và lầu gác bên trên, hoặc chỉ có hai trụ cùng cánh cổng gỗ mở vào.
Khi người Pháp bắt đầu xây dựng thành phố Hà Nội, họ đã nhiều lần nhắc đến bức lũy Đại La xây năm 1749 để xác định giới hạn quy ước của đô thị Hà Nội. Lá thư của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Đốc lý Hà Nội ngày 30/12/1889 đã nhấn mạnh: “Bức lũy cũ phải được coi như giới hạn của thành phố”.
Dãy lũy đất xen kẽ xây gạch này tương ứng với đường vành I ngày nay. Chúng cũng là những con đê cao hơn phố xung quanh, nhưng nay đã bị bạt đi khá nhiều như: Trần Khát Chân, Đại Cồ Việt, La Thành, Giảng Võ, Ngọc Hà, Hoàng Hoa Thám… với tổng chiều dài 16 km. Các cửa ô qua dãy lũy này có vai trò quan trọng để các nhà quy hoạch xác định hướng giao thông chính và vùng dân cư, đồng thời trở thành nét đặc trưng của Hà Nội.
Thiết kế cửa ô thể hiện trên bản đồ Hà Nội 1885.
|
Nhiều đô thị Việt Nam có thành quách, vòng la thành với các cổng vào, nhưng chỉ Hà Nội mới gọi là cửa ô. Trong Đại Việt Sử ký toàn thư, lần ghi nhận về các cửa ô sớm nhất là năm 1308, khi Trần Anh Tông trị tội "những kẻ đại nghịch": "Mùa đông, tháng 11, trị tội những kẻ đại nghịch là bọn tên Hân. Tên Hân bị chém ở cầu Giang Khẩu, tên Trù ở cửa thành chợ Dừa, tên Tổng ở cửa thành Tây Dương, tên Dung ở cửa thành Vạn Xuân". Cửa thành chợ Dừa tức Ô Chợ Dừa, cửa thành Tây Dương tức Ô Cầu Giấy, cửa thành Vạn Xuân tức Ô Đống Mác.
Tuy nhiên, tên gọi “cửa ô” mới được dùng từ sau khi chúa Trịnh Doanh đắp lại vòng tường thành dài 16 km năm 1749, trên cơ sở bức tường lũy thời Mạc. Một số văn bản chữ Hán đã dùng từ “ổ môn” để gọi các cửa ô, với chữ “ổ” nghĩa là lũy, ụ. Trong Hoàng Lê nhất thống chí, từ này đã được dùng khi thuật việc Trịnh Khải thua trận trước Nguyễn Huệ năm Bính Ngọ 1786, chạy khỏi kinh thành qua ngả “cửa ô Yên Hoa”.
Các văn bản địa chí nói đến cửa ô như Bắc thành dư địa chí (thời Minh Mạng), Hà Nội địa dư (thời Tự Đức), Phương Đình dư địa chí loại (năm 1882, khắc in năm 1900), Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ (1956) đều xác định Hà Nội có 21 cửa ô. “Đến năm Kỷ Tỵ 1749 đời Cảnh Hưng, cho rằng Kinh sư vốn là vùng đất căn bản, bá quan lục quân đều đóng ở đấy, thế mà bốn phía hở thông thống chẳng có thành lũy gì che chắn, bèn lệnh cho dân ở các huyện ven kinh kỳ khởi công đắp thành, mở ra 8 cổng và các cửa ô tả hữu rồi chia quân lính tới túc trực canh giữ. Ngày nay thành ấy còn lại di chỉ dài 7762 tầm, với 21 cửa ô”, sách cũ ghi lại.
Về hình thức, các cửa ô cơ bản có hai loại: loại cửa vòm và lầu gác bên trên (có thể xây thành lối tam quan như Ô Quan Chưởng) và loại chỉ có hai trụ biểu cùng hai cánh cổng gỗ mở vào.
Thiết kế cửa ô thể hiện trên bản đồ Hà Nội 1885.
|
Từ 21 cửa ô, còn lại bao nhiêu?
Mặc dù các văn bản nêu trên đều nói có 21 cửa ô, nhưng thống kê từ các nguồn cũng như bản đồ, các nhà nghiên cứu xác định được 18 cửa ô và vị trí của 17 cửa. Trên bản đồ tỉnh thành Hà Nội 1831 có tên Hoài Đức phủ toàn đồ do Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến vẽ được công bố gần đây, từng được Trần Huy Bá vẽ lại và chú giải bằng quốc ngữ năm 1956, thì gồm 16 cửa ô.
Theo một cuốn sách khác, Thăng Long cổ tích khảo, lưu tại Viện Hán Nôm, thì có thêm hai cửa ô nữa là Trung Liệt (Ông Tượng) và Nhân Hòa (Hàng Dê). Từ bản đồ 1866 đời Tự Đức thì chỉ còn 15 cửa ô, con số này lặp lại trên bản đồ Hà Nội 1885 do người Pháp lập năm 1902, và được ghi chú chữ quốc ngữ.
Cũng năm này, tấm bản đồ do Phạm Đình Bách vẽ lại hiện trạng năm 1873 có danh sách 15 cửa ô bằng song ngữ và đánh số. Năm 1890, tấm bản đồ bằng tiếng Pháp còn đánh dấu một số cửa ô sót lại như Porte Mandarine (Ô Đồng Lầm), Porte du Roi (Ô Chợ Dừa), Porte de Sontay (Ô Cầu Giấy), Porte de Hué (Ô Cầu Dền). Cùng với Ô Quan Chưởng, đây là số ít địa danh có chữ “Ô” còn được dùng ngày nay.
Việc các cửa ô đổi tên nhiều lần, nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc lý giải do chính các làng có cửa ô bị đổi tên. Do hay thay đổi sinh ra khó nhớ, dễ lẫn nên người dân thường gọi bằng các tên nôm như Ô Hàng Đậu, Ô Quan Chưởng, Ô Cầu Dền, Ô Đống Mác… và thực tế cũng là những cái tên còn lại lâu dài về sau.
Trong cuốn Hà Nội 1873-1888, André Masson đã tập hợp các nguồn lưu trữ để chỉ ra có 16 cửa ô. “Điểm làm Hà Nội 1873 khác với Hà Nội hiện nay (1929) trước hết là ở những công trình bảo vệ của nó. Đó là những tường vây hoặc các cổng chia cắt nhỏ các phố ra. Khu buôn bán được bảo vệ bằng nhiều cổng, trong đó hiện nay chỉ còn cổng Jean Dupuis (tức cửa Ô Quan Chưởng). Cổng này có nguy cơ bị phá vào năm 1906 nhưng may mắn được trường Viễn Đông Bác Cổ cứu thoát. Theo ghi chép, cổng được xây dựng năm 1749 để phòng thủ kinh thành ở mặt sông Hồng trước sự nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu”.
Sơ đồ thành ngoài (Đại La) của tỉnh thành Hà Nội năm 1831 trên cơ sở bản vẽ của Trần Huy Bá với các cửa ô. Các cửa ô tập trung nhiều ở mặt sông Hồng do kiêm chức năng cửa khẩu buôn bán.
|
Ở tường phía trái cửa chính Ô Quan Chưởng có gắn tấm bia do tổng đốc Hà-Ninh Hoàng Diệu cho khắc, đề năm Tự Đức thứ 34 (1881) cấm lính gác sách nhiễu người qua lại, có tên là “Thân cấm khử tệ”.
So sánh các bản đồ, có thể xác định ra một số điểm dễ gây nhầm lẫn, ví dụ ô Cầu Giấy không nằm ở chỗ Cầu Giấy bắc qua sông Tô Lịch hiện nay mà ở phố Thanh Bảo, gần đầu phố Nguyễn Thái Học và chợ Ngọc Hà, do đó cũng manh tên ô Thanh Bảo hay Vạn Bảo.
Mặc dù bức tường đất vòng quanh Hà Nội được đắp với tác dụng ngăn ngừa giặc giã, quân nổi loạn, nhưng thực tế lại để dọa người lành, bằng chứng là văn bia năm 1881 đã nhắc tới tệ sách nhiễu vốn tồn tại trước đó. Khi quân Pháp tấn công Hà Nội hai lần, những cửa ô không có tác dụng chặn được đại bác hay sự tàn phá của thực dân.
Theo thời gian, các cửa ô mất dần ý nghĩa thành trì, đại diện cho kiểm soát quyền lực của thể chế mà chuyển thành địa danh cộng đồng, tựa như cổng làng quen thuộc khắp các miền quê. Vừa là một phần của thành lũy, lại vừa là vật chứng của phố phường, cửa ô xứng đáng là biểu tượng trọn vẹn của đô thị Hà Nội.
Hà Nội từng có 21 cửa ô:
STT
|
Bản đồ 1831
|
Bản đồ 1873
(tên phụ in nghiêng)
|
Bản đồ 1885
|
Tên khác
|
Vị trí hiện nay
|
1
|
Yên Hoa
|
Yên Phụ
|
Yên Phụ
|
Đầu dốc Thanh Niên-Yên Phụ
|
|
2
|
Yên Tĩnh
|
Yên Tĩnh
Hàng Than
|
Hàng Than
|
Yên Định, Yên Ninh
|
Đầu dốc Cửa Bắc-Yên Phụ
|
3
|
Thạch Khối
|
Nghĩa Lập
|
Đầu dốc Yên Ninh
|
||
4
|
Nguyên Khiết
Yên Ninh
|
Hàng Khoai
|
Nghĩa Khiết
|
Đầu Hàng Khoai
|
|
5
|
Phúc Lâm
|
Nghĩa Dũng Hàng Đậu
|
Hàng Đậu
|
Tiền Trung
|
Hàng Đậu giao với Yên Phụ
|
6
|
Đông Hà
|
Quan Trưởng
Đông Hà
|
Quan Trưởng
|
Ô Quan Chưởng-Hàng Chiếu
|
|
7
|
Trừng Thanh
|
Ưu Nghĩa
Hàng Mắm
|
Không tên
|
Hàng Chĩnh
|
|
8
|
Mỹ Lộc
|
Nghĩa Lập
Hàng Bạc
|
Không tên
|
Ngã tư Hàng Mắm-Hàng Muối
|
|
9
|
Đông Yên
|
Thương Chánh
Hàng Cau
|
Không tên, trên phố Hàng Xu
|
Đông An, Hàng Cau
|
Ngã tư Lò Sũ-Nguyễn Hữu Huân
|
10
|
Trung Liệt,
Ông Tượng
|
||||
11
|
Tây Luông
|
Cựu Lâu
Tràng Tiền
|
Porte de France
|
Trường Long
|
Nhà hát Lớn
|
12
|
Nhân Hòa
|
Hàng Dê
|
Bệnh viện 108
|
||
13
|
Thanh Lãng
|
Lương Yên
Đống Mác
|
Đống Mác
|
Lãng Yên
|
Cuối Lò Đúc
|
14
|
Yên Thọ
|
Thịnh An
Cầu Rền
|
Cầu Dền
|
Yên Ninh
Thịnh Yên
|
Ngã tư Ô Cầu Dền
|
15
|
Kim Hoa
|
Kim Liên
Đồng Lầm
|
Đồng Lầm
|
Cầu Muống
|
Ngã tư Kim Liên-Đại Cồ Việt
|
16
|
Thịnh Quang
|
Thổ Quan
Chợ Dừa
|
(bản đồ không bao gồm)
|
Thịnh Hào
|
Ngã tư Ô Chợ Dừa-Đê La Thành
|
17
|
Thanh Bảo
|
Vạn Bảo
Cầu Giấy
|
Cầu Giấy
|
Kim Mã
|
Phố Thanh Bảo giao với Sơn Tây
|
18
|
Thụy Chương
|
Thụy Chương
Quan Thánh
|
Quán Thánh
|
Tây Hồ
|
Dốc La Pho-Thụy Khuê
|
Nguyễn Trương Quý
5 cửa ô nổi tiếng của Hà Nội:
Đống Mác, Cầu Dền, Cầu Giấy, Chợ Dừa và Ô Quan Chưởng.
Đống Mác, Cầu Dền, Cầu Giấy, Chợ Dừa và Ô Quan Chưởng.
Chỉ còn lại di tích Ô quan Chưởng:
-Ô Đống Mác
nằm cuối phố Lò Đúc, ở đoạn giao với đường Trần Khát Chân và phố Kim Ngưu.
-Ô Cầu Dền
chính là ngã tư lớn nối Phố Huế, Bạch Mai, Trần Khát Chân, Đại Cồ Việt.
-Ô Chợ Dừa
hiện nay là điểm giao cắt của 6 tuyến phố Xã Đàn, Khâm Thiên, Tôn Đức Thắng, Tây
Sơn, Đê La Thành, Ô Chợ Dừa.
-Vị trí của
Ô Cầu Giấy được cho là nằm ở đoạn cây cầu bắc qua sông Tô Lịch tại ngã tư đường
Láng - Bưởi - Cầu Giấy - Kim Mã.
-Vị trí Ô
Quan Chưởng là điểm giao của phố Hàng Chiếu, phố Đào Duy Từ và phố Thanh Hà.
Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016
20-11-2016
Teo tóp lớp trường vắng học sinh
Thôi thì sang Lao động-thương binh...
Nợ công, nợ nghĩa...bao giờ lặng
Ngày giáo đã quen tới một mình.
17/11/2016
Năm nay cố đợi nét vui tươi
Quốc hội vừa nghe Nh. trả lời
Mắt trẻ vùng cao thương biết mấy
Người thì vẫn vậy khẽ xa xôi!
19/11/2016
Cổng trường cờ gió vắng tung bay
Mơ ước dập dìu trò mắt say
Bóng đá chiều nay AFF
Niềm vui nhen lại đủ trong ngày.
Hanh còn xa lắc trời chưa rét
Còn thấy ngày xưa cũng ở đây
Nắng trải tràn đầy, mây trắng đẹp
Thôi thì cứ vậy, cứ hôm nay!
20/11/2016
Thôi thì sang Lao động-thương binh...
Nợ công, nợ nghĩa...bao giờ lặng
Ngày giáo đã quen tới một mình.
17/11/2016

Năm nay cố đợi nét vui tươi
Quốc hội vừa nghe Nh. trả lời
Mắt trẻ vùng cao thương biết mấy
Người thì vẫn vậy khẽ xa xôi!
19/11/2016

Cổng trường cờ gió vắng tung bay
Mơ ước dập dìu trò mắt say
Bóng đá chiều nay AFF
Niềm vui nhen lại đủ trong ngày.
Hanh còn xa lắc trời chưa rét
Còn thấy ngày xưa cũng ở đây
Nắng trải tràn đầy, mây trắng đẹp
Thôi thì cứ vậy, cứ hôm nay!
20/11/2016

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



