Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

TRẠNG TRÌNH

NguyễnBỉnh Khiêm (1491–1585), tên huý là Nguyễn Văn Đạt, tên tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân am cư sĩ, được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam-Bắc triều (Lê-Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Sau khi đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi (1535) và làm quan dưới triều Mạc, ông được phong tước Trình Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công  mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Đạo Cao Đài sau này đã phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn chân nhân. Người đời coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là Sấm Trạng Trình.
Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người xứng đáng kế thừa và phát triển ngôn ngữ thi ca dân tộc kể từ sau thời Nguyễn Trãi, góp phần giúp nó đạt đến mức độ hoàn thiện cao dưới thời Nguyễn Du. Hai tập thơ của ông là Bạch Vân am thi tập (chữ Hán)  Bạch Vân quốc ngữ thi tập (chữ Nôm) được coi là thành tựu lớn của thơ văn trung đại Việt Nam, mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực, đã mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường, là một cống hiến lớn của văn học thời Mạc đối với tiến trình phát triển và hoàn thiện của văn học dân tộc.
Là một người xuất thân từ tầng lớp trí thức quan lại nhưng cả cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ coi việc làm quan là lý tưởng cao nhất của sự nghiệp, cũng như là một nhà nhân đạo chủ nghĩa ông luôn đề cao tư tưởng thân dân trong sách lược trị nước.
Ông cũng được sử sách và người đời thừa nhận rộng rãi với tư cách là một nhà dự báo, hoạch định chiến lược kỳ tài, với tầm nhìn địa chính trị đi trước thời đại nhiều thế kỷ. Những lời cố vấn nổi tiếng của ông dành cho các tập đoàn quyền lực phong kiến Mạc, Lê-Trịnh, Nguyễn đã có ảnh hưởng to lớn, mang tính bước ngoặt đối với tiến trình của lịch sử dân tộc và từ đó tác động lớn tới quan hệ địa chính trị của cả khu vực Đông Nam Á trở về sau. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Bỉnh Khiêm có khả năng là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một tầm nhìn chiến lược thấu suốt về chủ quyền của đất nước trên biển Đông ngay từ thế kỷ 16. Ông cũng có thể là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến hai chữ Việt Nam - với tư cách là quốc hiệu của dân tộc - một cách có ý thức nhất thông qua di sản thơ văn của ông còn lưu lại đến ngày nay.

Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (từ năm 1509 đến khoảng năm 2019). Đây là những dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên "thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả". "Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa" Sấm ký, giai thoại và giải đoán chứa đựng nhiều thú vị về một trí tuệ bậc Thầy kỳ tài muôn thuở, nặng lòng yêu nước thương dân và sâu sắc hiếm thấy.
Sấm ký ở bản A có 262 câu, gồm 14 câu "cảm đề" và 248 câu "sấm ký". Ngoài bản A còn có ít nhất ba dị bản về sấm Trạng Trình.
Sấm ký gắn với những giai thoại và sự thật lịch sử. Nhiều nội dung trong sấm ký hiện đã được giải mã, chứng minh tính đúng đắn của những quy luật- dự đoán học trong Kinh Dịch và Thái Ất thần kinh". Đến nay đã có 36 giai thoại và sự thật lịch sử về Sấm Trạng Trình đã được giải mã.
Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" nghĩa là "Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài". Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc "Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể" (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê - Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản" (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: "Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong".
Theo một số nhà sưu tầm và nghiên cứu, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã được Trạng Trình dự báo qua câu thơ: "Đầu Thu gà gáy xôn xao/ Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long". ở câu 1, "đầu Thu" là tháng 7 Âm lịch, "gà" nghĩa là năm Ất Dậu, thời điểm sự kiện diễn ra, "gáy xôn xao" nghĩa là có tiếng vang lớn, thức tỉnh muôn người. Ở câu 2, "Trăng xưa" nghĩa là "cổ nguyệt" theo Hán tự, ghép lại thành từ "hồ", là họ của Hồ Chí Minh. "Sáng tỏ soi vào Thăng Long" là sự kiện Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba.

Trích Bạc am thi tập:

Cảm hứng

Thái hoà vũ trụ bất Ngu Chu, 
Hỗ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù. 
Xuyên huyết sơn hài tuỳ xứ hữu, 
Uyên ngư tùng tước vị thuỳ khu. 
Trùng hưng dĩ bốc đồ giang mã, 
Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu, 
Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước, 
Tuý ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.
 Trương truyền bài thơ này làm ra để tiên đoán việc nhà Lê sẽ trung hưng và nói đến việc họ Trịnh chuyên quyền lấn áp vua Lê. Và những việc của ông tiên đoán điều không sai một mảy.

Trích Bạch Vân quốc ngữ thi tập:
Dại khôn
Làm người có dại mới nên khôn, 
Chớ dại ngây si, chớ quá khôn. 
Khôn được ích mình, đừng rẽ dại, 
Dại thì giữ phận chớ tranh khôn. 
Khôn mà hiểm độc là khôn dại, 
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn. 
Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại, 
Gặp thời, dại cũng hoá nên khôn.

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

TIẾNG NGHỆ

Cái gầu thì bảo cái đài 
Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi 
Chộ tức là thấy mình ơi 
Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em 
Thích chi thì bảo là sèm 
Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào 
Cá quả lại gọi cá tràu 
Vo troốc là bảo gội đầu đấy em... 
Nghe em giọng Bắc êm êm 
Bà con hàng xóm đến xem chật nhà 
Răng chưa sang nhởi nhà choa 
Bà o đã nhốt con ga trong truồng 
Em cười bối rối mà thương 
Thương em một lại trăm đường thương quê 
Gió Lào thổi rạc bờ tre 
Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn 
Chắt từ đá sỏi đất cằn 
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em.
Nguyễn Bùi Vợi
 

Năm mươi năm sống trửa lòng Hà Nội
Nỏ khi mô tui quên được quê nhà
Nhớ mần răng mà hắn nhớ diết da
Sèm được nghe "ri, tê" cho sướng rọt!
Đang tự nhiên, ai kêu: "Cho đọi nác..."
Rứa là rọt gan tui hấn rành cuộn cả lên
Tui nhớ nhà, nhớ mệ, nhớ các em
Nhớ cả cấy cươi tui nhởi trò đánh sớ
Tui nhớ ông tui suốt một đời rành khổ
Có trấy xoài rớt xuống nỏ đành ăn
Để triều về cho cháu nhỏ quây quần
Ông dạy, dộ rồi chia đều từng đứa
Chưa có khi mô tui chộ ông đi dép nợ!
Rành chưn không, phủi bộp bộp - lên giường
Ông buồn chi mà rành thở dài luôn
Giừ tui tra rồi, hiểu rọt gan ông nội
Ông đã góa vô vô cùng sớm túi
Tui cụng sắp về với ông tui đây
Trong rọt, trong gan cứ nhớ tháng, nhớ ngày
Nhớ quê Nghệ! Rành sèm nghe tiếng Nghệ!
Tiếng Nghệ choa ơi! Răng mi hay rứa thế!
Nhờ có mi hình - mà choa góa thi nhân
Choa buồn, choa vui, choa nhởi, choa mần...
Nhưng nỏ có khi mô choa quên tình - Tiếng Nghệ!
Hoàng Cát

Hình ảnh có liên quan
Nghệ An


Bán kính ước mơ- tôi nửa vòng trái đất!
Bán kính yêu- tôi nửa xóm mà thôi!
Gấy Nghệ!
Người yêu tôi gấy Nghệ!
Con cái tôi là con gấy Nghệ!
Vợ tôi là cây, gấy Nghệ là rừng!
Có cần tôi PR con gấy Nghệ không?
Con gấy Nghệ thơm hơn nước hoa Pháp
Con gấy Nghệ giòn như …
Mà thôi không ví được!
Con gấy Nghệ xinh…
Nhưng chỉ chẳng dịu hiền!
Có lẽ tại gió Lào nên âu yếm cũng cong vênh
Đi khắp đông tây vẫn mo nang được nắng
Cái làm thì siêng, cái ăn thì vụng
Có câu hát làm duyên cũng lúc giận, lúc thương!
Con gấy thướt tha, yểu điệu, nhẹ nhàng
Mẹ chê: “dâu ni cưới về thì hầu vưa mệt”
Bà chọn mẹ cho cha răng,
Giừ mẹ chọn vợ cho con như rứa
Con dâu hiền là mắn đẻ, lam làm…
Hỏi trăm người lấy gấy Nghệ An
Thì cả trăm đều khen vợ đảm
Thì cả trăm đều “chê” vợ hàng xóm
Hỏi gấy Nghệ răng mà tài rứa hề?
- Con gấy hơn nhau ở cái “khoản” kia
Thuốc phiện đấy mà nhiều nơi không biết
Gấy Nghệ khi yêu thì yêu phát khiếp!
Tôi nghi ngờ nhưng biết lấy chi so?
Gấy Nghệ bảo tôi viết tặng bài thơ
Chồng gấy Nghệ, rồi bồ gấy Nghệ
Tôi quanh quẩn cả đời trong đó
Không biết gấy nơi mô hơn gấy Nghệ tôi không?
7/4/2013
Lê Huy Mậu (tác giả bài thơ sông quê)
* Gấy: tiếng Nghệ vừa có nghĩa là gái, vừa có nghĩa là vợ


Kết quả hình ảnh cho "bản đồ hà tĩnh"
Hà Tĩnh



Gặp em dẫu mới lần đầu
Mà choa như thể duyên lâu lắm rồi
Phải đâu gió rạc* quê tôi
Mới nghe giọng nói người ơi su đằm
Anh xuôi Ngàn Hống chiều đông
Em về Ngàn Phố ngược dòng sông La
Giăng Màn nên chẳng thấy ra
Rú Vằng, Thiên Nhẫn, Tam Hoa quê mình**
Người Hà Tĩnh sống trọn tình
Nên chăng câu ví chùng chình bâng khuâng
Em về chưa đến đầu truông
Ghềnh Tàng, hói Bượm nhớ thương Đức Hòa***
Con gấy Hà Tĩnh nhà choa
Rờ mô cũng sướng thật- thà- thảo- thơm
Đi xa Hà Tĩnh vấn vương
Lộ ni, lộ nớ... tai ương phận Kiều
Mới nghe câu nói đã yêu
Mới nhìn khóe mắt đã xiêu xiêu lòng
Anh xuôi Ngàn Hống ngày đông
Tìm trong câu hát buồn đong vơi đầy…
20/14/11
Ngô Đức Hành
* Ý thơ trong bài 'Tiếng Nghệ' của Nguyễn Bùi Vợi
** Một số địa danh ở Đức Thọ, Vũ Quang 
*** Một số địa danh ở Đức Thọ 



Từ điển tiếng Nghệ An
Giới thiệu với mọi người chút ít về tiếng ở quê tui nha

TỪ ĐIỂN TIẾNG NGHỆ AN NÌ
Mi : có nghĩa là Mày
Tau : có nghĩa là Tao
Mô : có nghĩa là Đâu ?
(vd : “mi đi mô đó” thì dịch ra là “Mày đi đâu đấy”)
Tê : có nghĩa là Kia
Ni : có nghĩa là Này
Rứa : có nghĩa là Thế
Răng : có nghĩa là Sao
(vd “Răng rứa ?” dịch ra là “sao thế?” )
Ngày Mốt : có nghĩa là Ngày Kia
( vd : “mốt tau mới về” dịch ra là “Ngày kia tao mới về” )
Đọi : có nghĩa là Bát
Trốc : có nghĩa là Đầu
Tru : có nghĩa là Trâu
Lè : có nghĩa là Đùi
Nhể : từ này í chê bai có thể dịch là Chuối (mạnh hơn nhiều) or Bựa
Chộ : từ này có nghĩa là Thấy
Chi : có nghĩa là Gì ?
Nỏ : có nghĩa là Không. (Ví dụ “Nỏ đi, Nỏ cho”...nhưng mà không có câu “Đi Nỏ”hay “Cho Nỏ” đâu nhá...từ “Nỏ” chỉ đứng trước động từ...)
Bổ : có nghĩa là Ngã (vd : “hấn bị bổ xe” dịch là "Nó bị ngã xe")
Trốc Gúi : có nghĩa là Đầu Gối
Ngái : có nghĩa là Xa.
VD : Nhà mi có ngái trường ko? ~~> nhà mày có xa trường ko?
Nác : có nghĩa là Nước (nước uống í)
Môi : có nghĩa là Muôi (cái muôi chan canh í)
Su : có nghĩa là Sâu (VD : Ao ni su ri ~~> Ao này sâu thế)
Hầy : có nghĩa là Nhỉ (vd : Hay hầy ~~> Hay nhỉ or Ai đó hầy ~~> Ai đấy nhỉ )
Đài : còn có 1 nghĩa nữa là cái gàu múc nươc, hehe
Cươi : có nghĩa là Sân
Nương : có nghĩa là Vườn
Rọng : có nghĩa là Ruộng
Mần : có nghĩa là Làm
(vd Cha mệ cháu đi mần rọng rồi ạ ~~> cha mẹ cháu đi làm ruộng rồi ạ)
Mệ : có nghĩa là mẹ
con ròi : có nghĩa là con Ruồi
Choa : Có nghĩa là bọn tao
Rồi em của mẹ thì gọi là Gì, Em của bố thì gọi là O
Tiêng Việt đã khó tiếng nghệ an còn khó hơn nữa
Nghệ An choa miền trung lắm gió
Có Cửa Lò biển hát quanh năm
Cùng quê Bác xứ sở nước tương
Với Thanh Chương, nhút mặn chua cà
Bà già con trẻ có ngôn ngữ riêng
Đứa mô chưa ghé một lần
Ráng học cho kỹ điển từ sau đây

”Con trâu” thì gọi là “tru”
”Con giun” thì gọi là “trùn” đó nha
”Con gà” thì kêu “con ga”
Còn con “cá quả” gọi ra “cá tràu”
”Con sâu” lại gọi là “trâu”
”Bồ câu” thì gọi “cu cu” đó nà
”Con ruồi” lại gọi là “ròi”
”Con troi” thì gọi “con giòi” nhớ chưa
”Con bê” còn gọi là “me”
Con “mọi” là “muỗi” khi nghe đừng cười
Mà cười là choa chửi thẳng tưng
”Trốc cha mi khái cạp” là “đầu bố mày hổ tha”
”Mả cha” là “ngôi mộ của ba”
Mà “Ông cha mi xéo” là “Ông bố mày cút đi”
Muốn ở đất nghệ phải biết chuyên cần
Học nhiều từ ngữ âm vần nghe chưa
”Con người” thì gọi “con ngài”
Còn từ ni nữa nói nghe cùng rầy(ngượng)
Mà có nói thì bây mới biết
Hun – hôn, cưa – tán, mấn - váy
Môi – mui, đầu – trốc, ngứa – ngá
Sờ - rờ, nằm mơ gọi là mớ
Nhớ ghi cho kỹ kẻo rồi lỗ to
Khủy chân thì gọi lắc lè
Cơn – cây, Chủi – chổi, gốc – cộc
Sân – cươi, đường - đàng, rú - núi
Nhởi – chơi, lười – nhác, mần – làm đó nghe
Đêm nằm nếu đói đừng lo
Nhảy vô nhà bếp tìm nồi nấu cơm
Ngọ nguậy là cái đũa bếp
Giáp đít là cái rế nồi hiểu chưa
nước – nác, đọi – bát, mươn – bàn
Nướng - náng, luộc – looc, muối – mói
Gói – đùm, chum – vại, rổ - rá
dái dê là quả cà dài
mắm tôm – ruốc, Thóc – ló, ngó - nhìn
Lỡ yêu ngài(người) ở đất quê choa
Thì nên chịu khó học từ nhiều mà cưa
Nhưng học ri vẫn chưa ăn thua
-----------------------------------------

Cái "gầu" thì gọi cái "đài"
Ra "sân" thì bảo ra ngoài cái "cươi"
"Chộ" tức là "thấy" em ơi
"Trụng" là "nhúng" đấy, đừng cười nghe em
"Thích" chi thì bảo là "sèm"
Khi ai bảo "đọi" thì đem "bát" vào
"Cá quả" thì gọi "cá tràu"
"Vo trốc" là bảo "gội đầu" đấy em

------------------------------------------
Nghe em giọng Bắc êm êm
Bà con hàng xóm đến xem chật nhà
Khi "mô" sang "nhởi" nhà "choa"
Bà "o" đã nhốt "con ga" trong chuồng!
Em cười bối rối mà thương
Thương em một, lại trăm đường thương quê
Gió lào thổi rạc bờ tre
Chỉ qua giọng nói cũng nghe nhọc nhằn
Chắt từ đá sỏi đất cằn
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em
Hơn nữa thì tiếng Nghệ An 1 số vùng rất nặng nên những dấu ~ (ngã) thì đọc thành . (nặng) (vd : cơn bạo số 7, đóng cựa lại, Đà Nặng, Hà Tịnh, cụng đc)--> (cơn bão số 7, đóng cửa lại, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, cũng được)
Theo Phi Lộc quê hương tôi.

QUÊ TÔI ĐÓN TẾT

QUÊ TÔI ĐÓN TẾT
Nhà tôi sát cạnh giếng làng
Xây toàn bằng đá nước càng thêm trong
Tết này con cháu về đông
Hai bà bày rửa lá dong kỹ càng
Nếp vo trắng, đậu đãi vàng
Ông xong nải chuối, sẵn sàng gói thôi
Bên trong lửa đã nhóm rồi
Khói lên biết đã bắc nồi bánh chưng!
Ngõ trên xóm dưới tưng bừng
Mấy nhà đụng lợn, dỡ bung hàng rào
Nhà tôi góc dựng cành đào
Đầy mâm ngũ quả, ồn ào từ trưa...
10/02/2017- hxd

Ảnh St

QUÊ NHÀ

QUÊ NHÀ
Sắp rằm phố lại nhớ quê
Xuân mang đầm ấm trở về từ đây.
Dưới nhà rơm bếp khói bay
Bà ôm cháu, gấc đỏ đầy ngoài sân.
Quê xa mà thấy rất gần
Con mèo ngồi đếm người thân vào nhà!
7/2/2017 (11/Giêng)- hxd
Không có văn bản thay thế tự động nào.
Ảnh St

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Năm gà Đinh Dậu đến nơi
Phất phơ ngũ sắc chắp lời nôm na
Mách bày thì gọi là gà
Chữ như gà bới chẳng qua đói mồi
Con gà mái ghẹ hôm rồi
Tập gà nhảy ổ làm rơi cái lồng
Hư như mèo mả gà đồng
Sạch như gà trụi chẳng lông trên mình
Gà trống gáy rạng bình minh
Gà què ăn quẩn rập rình cối xay
Mật ong óng đẹp gà quay
Chợ quê ngày tết mua ngay gà đồi
Gà theo Cóc kiện ông trời
Khác gà công nghiệp một thời đã xa
Gà đi tết bố vợ nha
Gà giãy đành đạch khi nhà cỗ mâm
Hạt sen ngải cứu gà hầm
Cháo gà, đùi rán, rang, làm xé phay
Tiết gà, tiêu, muối chấm đây
Chân gà xem bói, điều may chuyện lành
Con gà cục tác lá chanh
Gà trống nhặt sạn dỗ dành mái tơ
Gà lên tọa ở bàn thờ
Ngậm hoa, hương khói gà mơ về trời
Con gà sống thiến quen rồi
Ngủ gà ngủ gật dài đuôi béo tròn
Phao câu gà luộc rõ ngon
Da gà Đông Tảo mới giòn làm sao
Gà già cục tác ồn ào
Trống choai gà trẻ rướn cao tiếng ò
Đầu gà đuôi lợn đắn đo
Thôi thì gà vịt đôi co làm gì
Gà đen...mẹ mắng...chân chì
Chớp đông gà gáy ấy thì sắp mưa
Cỏ gà bứt mấy cho vừa
"Mình ga trôốc vịt" chơi đùa trêu nhau *
Vỡ lòng gà tới vườn rau
Đuổi gà chó sủa gâu gâu mấy lần
Gà chê thóc lép không ăn
Gà đi ngủ sớm chẳng cần hoàng hôn
Trứng tròn ấp nở gà con
Ríu chân gà chạy hết hồn quạ tha
Ăn tham để hóc xương gà
Như gà mắc tóc gỡ ra không chừa
Quáng gà vẫn khối cô ưa
Gà mờ anh tưởng em chưa má đào!
Trưa hè gà gáy xôn xao
Tranh gà Hàng trống, gà vào thi ca
Gà chưa cứng cựa, non cà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Muộn trăng gà bỗng gáy suông
Gà rừng te tái mờ sương con đường
Lang thang gà dạo trong vườn
Đuổi nhau gà cậy gần chuồng chút thôi
Gà cùng một mẹ nhớ lời
Dù gà chín cựa từ thời Sơn Tinh
Gà son một mối tơ tình
Mào gà hoa níu chúng mình hôm nao...

*Mình gà đầu vịt
26/01/2017-29 tết -hxd
Ảnh St


CAM

CAM
Cánh cam xanh biếc cành cao
Để rơi kỷ niệm ai nào cam tâm
Không nhiều thì ít cho cam
Đồng cam cộng khổ cố làm sẽ xong
Đành thôi anh phải cam lòng
Thân làm cam chịu, đèo bòng đắng cay
Cam Sành sỏi hãy còn may
Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai!
Đinh ninh yêu dấu một hai
Ngửa bình Cam Lộ ra ngoài chưa em
Cam Bù Hà Tĩnh đắp thêm
Nắng chiều rám quả theo kèm màu cam
Em đừng anh hãy còn ham
Cam Canh ngoài ngõ cha cầm roi mây
Con xin cam Bố Hạ tay
Bao giờ cho hết đọa đày cam Vinh!
Cam Ranh từ thuở mới sinh
Nhưng lòng Cam Thảo nghĩa tình xóm quê
Gốc đa ngồi đợi lời thề
Hoa Cam Kết trái xuân về yêu thương!
Vườn trưa ngọt lịm cam Đường
Cam vàng nặng trĩu, quê hương nghĩa tình
12/01/2006- hxd
Trong hình ảnh có thể có: trái cây và món ăn

ĐEO KÍNH ONLINE

ĐEO KÍNH ONLINE
Online đeo kính sờ lần
Mắt nhèm nước chảy, ước thầm thuở trai
Sáng lên ngón chọn tìm bài
Thấy nàng úp cá, giỏ quai mơ màng
Ô hay giãi má ướt tràn
Iphon di miết mờ màn hình thêm
Phím nào cũng gõ thành em
Đang khi đeo kính bỗng thèm miếng ngon!
Thương nàng con gái tơ non
Thương hàm nguyên sụn vẫn online đều!
04/01/2017-hxd

 Trong hình ảnh có thể có: 1 người, ngoài trời

GÀNH ĐÁ ĐĨA PHÚ YÊN


GÀNH ĐÁ ĐĨA PHÚ YÊN
Tên gành mường tượng đến ghen
Đá nghiêng chồng đĩa, đĩa thêm một người!
Sững sờ, sờ xuống tận nơi
Nữ Oa bà có phì cười xưa không?
Hỏi em, thấy má đỏ hồng
Em không có đĩa, chả mong có gành!
30/12/2016-hxd
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, núi, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên

BỚT

BỚT
Bớt gì cũng thấy ngại ngùng
Bớt nghèo bỗng thấy tự dưng mình hèn
Thế thì bớt xấu có nên?
Bao nhiêu các mợ đánh ghen sẽ chờ!
Mình gầy có béo bao giờ
Còn mong nữa, có mà giơ xương sườn
Chưa tin ai nghĩ đã buồn
Bớt đi nữa chắc thảm thương cuộc đời!
Ngày kia, năm mới đến rồi
Thêm không hỏi, lẩn thẩn ngồi comment!
Định không, nghĩ lại quyết rằng:
Mỗi thứ bớt tí! Nhăn răng vợ lườm...

30/12/2016

Blog Người Năm cũ: Osin- Chè chát quê hương

OSIN NGÂM KHÚC(Thơ vui tặng các ông bà nội, ngoại bạn tôi)

Thuở trời đất nhiều phen lộn xộn
Làm ông bà có bộn chuyện hay
Kể cho thế hệ sau này,
Cười vui cái chuyện của “ngày hôm qua …” !
***********
Con đến lúc lập gia thành thất
Ở xa quê lây lất tựa nhau
Một ngày nào đó gọi: Mau!
Mẹ ơi! Cháu mẹ tháng sau ra đời…

Vừa đúng lúc nghỉ ngơi công việc .
Nợ “công danh” xong xiếc, ông bà… 
Mơ tay nắm … chỉ hai ta,
Lãng du đất nước bao la hữu tình.

Nghe con nói liền đình kế hoạch
Ông giúp bà túi, xách… lên đường.
Hành trang đầy ắp tình thương
Vô Nam, ra Bắc mấy phương đâu nề!

Con vừa lớn chưa hề làm mẹ,
Cháu bé sinh, mấy trẻ trong nhà?
Cần tay chăm sóc của bà…
Ngày ngày cơm cháo, đường xa, chợ gần…!

Đâu quản ngại nhọc nhằn gian khó
Nhẹ vượt qua, như cỏ lông chông…!
Trời Âu, đất Mỹ như không, 
Sá gì thẳm núi, sâu sông… trăm nghìn!

Chức danh phong “Ô sin quốc tế”
Dấu chân in “bốn bể ,năm châu ”
Thành “công dân của toàn cầu…”
Xa xưa ai biết rằng…đâu có ngày?

Chân trời cũ, …sắp bay ngoái lại .
“Mợ… đi Tây…” , xa ngái trùng khơi
Buồn kia nào nói ra lời…
Xung quanh vẫn nước non người cách xa!

Con đi làm cửa nhà bề bộn,
Cháu có bà, yên ổn bên nhau.
Trông ra xanh ngắt một màu…
Cháu ơi, nhanh nhé lớn mau …bà chiều!

Xót ông cháu “cơm niêu nước lọ”
Sáng đến chiều vò võ với ai?
Ti vi ôm suốt đêm dài
Quờ tay…chạm tưởng có ai bên mình!

Ở trong ngoài mặc tình lo liệu.
Việc dư thừa, chỉ thiếu nghỉ ngơi.
Nhớ người tít tắp mù khơi…
Hồn đang gửi mộng đến nơi “thân cò”! (Tú Xương)

Vừa trông cháu, Zalo… chát chít …
Tối ôm “phây”…tít mít vung trời.
Cuối tuần được dắt …đi chơi
Có người phiên dịch,lên đời…“Ô sin”!

Được tân trang …“tin tin” sành điệu
Váy tân thời, các kiểu…tung bay
Đẩy xe đưa cháu hàng ngày…
Nhiều khi mải sự nên say ….quên “zìa”!

Nghĩ “cố quốc”…lòng chia hai ngả,
Nửa thương con, vất vả hơn nhiều
Nửa lo…“nắng quái buổi chiều”…
Có khi “phát hỏa”…liêu xiêu cửa nhà!

Con lên cấp làm ba, làm mẹ
“Ô sin” bà cũng ké… oai theo!
Khi xưa phận giáo chức nghèo
Nay đâu kém cạnh…chơi trèo …“trực thăng”! (tàu bay)

Thấm thoắt bao tuần trăng mờ tỏ
“Mãn hợp đồng ” …bà trở về nhà…
Thoạt nhìn ông chẳng nhận ra,
“Hương đồng gió nội…”của nhà …“bay” đâu?

Càng nhìn lại càng rầu rầu nghĩ ?
Để kịp bà - quyết chí liền ngay.
Gọi con…một suất “tàu bay”…!
Năm sau thêm cháu …“Bố mày – Ô sin!”
Phương Lan
(NNC – TP CT – 18/6/2015)




 

CHÈ CHÁT QUÊ HƯƠNG

(Thơ tiếng Nghệ – cho người Nghệ) 

Ả Huệ ,cu Đường, hoe Bảy ơi…
Chè xanh trên rú, bứt rành tươi,
Đem ỏm vô bình , nóng bỏng lại .
Bàn ghế rinh ra để trửa cươi!

Mời ả mời anh qua uống nác
Điếu đóm bên ni đạ sặn sàng...
Bật lả của tui ga hấn hết…
Thuốc lào bác cụng nhớ đưa sang….!

Rọng bừa chưa nạ ,khi mô cấy?
Vưng,lạc, độ xanh…được mấy lô?
Mùa ni nhà mự mần năng nấy?
Nắng ri, phơi ló chắc mau khô ….!

Tru của thằng tê ăn dưới hói,
Trụt chạc chạy vô, chận troạng nương !
Hấn mà nỏ sửa.cho ăn mói…
Cà cưởng với tui…., cức muốn dơng …

Gấy con nhà bác ra răng hậy… ?
Nhà nớ du ngoa chưởi…mụ gia
Thằng nhôông chộ rứa…cho hai vả…
Cha tổ cha cha….hấn ả nà !

Ôông mụ tê tề…vưa đập chắc
Chắt nớ vô Nam, để gấy rồi…
Con dượng chi chi …rành lớp tớp…
A rứa bỏ truông …khái hấn lôi!

Nắng nôi ra rứa ngài rành nhoọc !
Cơm ceenh mà hại, nót cò vô…
Bổ cấy toạc chưn khi gánh ló…
Trốc cúi, ắc lè…sót lộ mô !

Con nớ vơ trời, ngong rành sọi ?
Nỏ biết nhà ai đạ bỏ trù… ?
Thằng cháu ả hoe rành hợp chắc
Nậy rồi, cứ hỏi hấn mần du… !

Con o chắt ở khu công nghiệp
Côông lắm tóm ngài, lưa nạm xương !
Lại thêm cấy bệnh hay đau trôốc …
Nhủ nghỉ …va còn tiếc trự lương !

Về quê một chắc, khi mô đó… ?
Túi xuông mà nhởi ở nhà choa
Ga, vịt trong truồng lưa bảy ổ…
Sặn nhút, lộc thơm, rượu của nhà !

Chú ở ngoài tê, gưn có chộ
Các bác trung ương họp nói chi… ?
Bàn răng vận cứ bầy tui khổ…
Nhật, Hàn…Mỵ, Úc…sướng ra…ri !

Ngong cảnh ti vi… thương đứt rọt…
Đánh bom, khủng bố nỏ trừa ai,
Ác chi ác lạ quân…IS
Tắn độc, quỷ ma khác giống ngài… !

Ngay mốt mự đi cho bác gưởi
Có lượng hành tăm, chục trớng ga…
Kèm thêm mấy cổ gầng, chanh lá…
Trong nớ mần chi sặn như ta… !

Bên đọi nác chè xanh sóng sánh
Nửa đúa khoai lang, địa mói vừng
Lạc loọc một tô, dăm mánh bánh…
Ta,Tây, làng, xóm…chuyện vòng quanh !

****************************

Thương quá tình người quê mộc mạc
Một đời ruộng lúa với triền đê…
Xa rồi… nhớ lại hương chè chát…
Nhắc nhở lòng ta chốn trở về … !

(NNC – TPCT– 08/9/2015)

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, ngoài trời
 P/S :Cảnh uống nước chè buổi sáng của quê tôi.