Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

ĐÊM SÔNG CẦU


Tác giả: Đỗ Trung Lai
 alt

Anh qua sông Hồng, sông Đuống
Mùa mưa bọt nước đỏ ngầu
Không biết ở nơi em ở
Êm êm một khúc sông Cầu 

Tiếng một con tôm búng nước
Vó bè ai cất sau lưng
Sao trời lọt qua mắt lưới
Rơi đầy xuống cả mặt sông  

Con sông của người quan họ
Suốt đời nước chảy lơ thơ
Em ơi! Em là cô gái
Từ lâu anh đợi anh chờ

Em là cô tấm thảo hiền
Đến giữa đời anh trảy hội
Tình đã trao nhau êm đềm
Mà vẫn mắt nhìn bối rối

Sông Cầu khi đầy khi vơi
Chảy ngang qua câu quan họ
Ướt đầm vạt áo bao người
Vạt thương ướt cùng vạt nhớ


Em nói nhẹ như hơi thở
Anh nghe để nhớ suốt đời
Giữ tình yêu như giữ lửa
Đừng quên, đừng tàn, đừng nguôi!

Tình yêu có từ phương em
Đi qua năm tháng đợi chờ
Tình yêu có từ phương anh
Lửa rừng bồn chồn góc núi

Tình yêu có từ hai ta
Chẳng đủ gần mà giận dỗi
Nhà xa, mặt trận càng xa
Gặp nhau lần nào cũng vội

Ngày mai chắc là nhiều nắng
Nên sao giăng khắp trên đầu
Ngày mai trấn miền ải Bắc
Tựa lưng vào đêm sông Cầu.



Bài hát: Tình yêu trên dòng sông quan họ.
Nhạc sĩ: Phan Lạc Hoa
Ca sĩ: Thanh Hoa

NHỮNG PHÚT XAO LÒNG

Không lẽ để HG không được sử dụng mấy từ ấn tượng ấy...

 Tác giả: Thuận Hữu

Có thể vợ mình xưa cũng có một người yêu
(Người  ấy gọi vợ mình là người yêu cũ)
Cũng như mình thôi, mình ngày xưa cũng thế
Yêu một cô, giờ cô ấy cũng đã có chồng


Có thể vợ mình vì những phút mềm lòng
Nên dấu kín những suy tư, không kể về giấc mộng
Người yêu cũ vợ mình có những điều mà mình không có được
Cô ấy không nói ra vì sợ mình buồn.


Mình cũng có những phút giây cảm thấy xao lòng
Khi gặp người yêu xưa với những điều vợ mình không có được
Nghĩ về cái đã qua nhiều khi như nuối tiếc
Mình cũng chẳng nói ra vì sợ vợ buồn

Sau những lần nghĩ đâu đâu mình thương vợ mình hơn
Và cảm thấy mình như có lỗi
(Chắc vợ mình hiểu điều mình không nói)
Cô ấy cũng thương yêu và chăm chút mình hơn


Mà có trách chi những phút xao lòng
Ai cũng có một thời để yêu và một thời để nhớ
Ai cũng có những phút giây ngoài chồng, ngoài vợ
Đừng có trách chi những phút xao lòng!

ĐÊM THẤY TA LÀ THÁC ĐỔ

            Tác giả: Trịnh Công Sơn


Một đêm bước chân về gác nhỏ
Chợt thấy đoá hoa tường vi
Bàn tay ngắt hoa từ phố nọ
Giờ đây đã quên vườn xưa

Một hôm bước qua thành phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa
Đời ta có khi tựa lá cỏ
Ngồi hát ca rất tự do

Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về
Ngày xuân bước chân người rất nhẹ
Mùa xuân đã qua bao giờ

Nhiều đêm thấy ta là thác đổ
Tỉnh ra có khi còn nghe


Một hôm bước chân về giữa chợ
Chợt thấy vui như trẻ thơ
Đời ta có khi là đốm lửa
Một hôm nhóm trong vườn khuya

Vườn khuya đoá hoa nào mới nở
Đời ta có ai vừa qua
Nhiều khi thấy trăm nghìn nấm mộ
Tôi thấy quanh đây hồ như

Đời ta hết mang điều mới lạ
Tôi đã sống rất ơ hờ
Lòng tôi có đôi lần khép cửa
Rồi bên vết thương tôi quì

Vì em đã mang lời khấn nhỏ
Bỏ tôi đứng bên đời kia.




Bài hát: Đêm thấy ta là thác đổ.
Nhạc sĩ:
Ca sĩ: Khánh Ly






VỀ HAI CÂU THƠ CỦA XUÂN DIỆU

Thưa ông Khoa!
Khi viết về thi sĩ Xuân Diệu, một nhà thơ mà tôi đặc biệt cảm kích, sau khi ca tụng câu thơ "Trái đất ba phần tư nước mắt - Đi như giọt lệ giữa không trung", ông lại cho rằng "đây là câu thơ hay một cách đột xuất, bay ra ngoài quỹ đạo quen thuộc của thơ Xuân Diệu". Ông viết như thế thì người đọc nên hiểu như thế nào? Theo dõi dư trấn xung quanh cuốn sách của ông, tôi biết có một nhà phê bình trong nước muốn chữa câu thơ ấy, thay chữ "Đi" bằng chữ "Trôi". "Trôi như giọt lệ giữa không trung". Tôi nghĩ cũng có lý. Còn ông thì nghĩ sao về điều này? 
Vũ Trung Nguyên
1085 N. Adams Street - Arlington, VA 24203


Xuân Diệu là thày dạy nghề của tôi, là một trong những tác giả tôi đề cập đến trong cuốn sách với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc. Tôi đặc biệt kính phục hai câu thơ của ông: 
Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung
Cứ như cách hiểu của tôi thì đây là câu thơ rất giản dị và kỳ vĩ, có tầm khái quát rất cao, lại rất điêu luyện trong kỹ nghệ đưa thực tế đời sống vào thơ, một công việc bếp núc nhà nghề không mấy dễ dàng mà ngay cả Xuân Diệu cũng không phải lúc nào ông cũng làm được. Xuân Diệu từng viết về việc khai thác than, phải lọc bao nhiêu tấn đất đá mới chọn ra được một tấn than như thế nào. Rồi chuyện đóng hộp dưa chuột. Ông kể rất tỉ mẩn là phải chọn loại dưa như thế nào, hình dáng kích cỡ ra sao, dưa không được vẹo vọ hay sứt sẹo, rồi rửa dưa thế nào, không được để lẫn một hạt cát khi đóng hộp. Đọc chỉ thâý quý tấm lòng của ông đối với công việc sản xuất, còn bài thơ thì đã trệch ra khỏi văn chương và trượt xuống việc bốc đất bốc đá hay kỹ thuật đóng hộp dưa chuột mất rồi, không còn là thơ nữa. Xuân Diệu viết về việc mở đường ở Mã Pí Lèng cũng thế. Cái thực tế rất cụ thể, rất chính xác như thế này cũng không phải là thơ: 
Đá nhỏ bắt đầu rơi lộp bộp
Sau lôi đá lớn đổ ầm ầm...
Chiêm ngưỡng Xuân Diệu một cách khách quan và sòng phẳng như thế để chia sẻ nỗi vất vả cực nhọc trong công việc sáng tạo thi ca với ông, càng thấy quý hơn, trân trọng hơn hai câu thơ tuyệt vời ở mọi phương diện của ông:
Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung
Tôi đi đã nhiều, lục lọi cũng rất nhiều trong kho tàng thi ca nhân loại, nhưng cho đến nay, tôi chưa thấy câu thơ nào giản dị và kỳ vĩ hơn thế, tài nghệ đến như thế trong lĩnh vực xây dựng hình tượng thơ và đặc biệt là kỹ nghệ đưa thực tế đời sống vào thơ. Trong nền thơ ca nhân loại, nếu xét về mặt tổng thể, thi sĩ Xuân Diệu của chúng ta chỉ ở một vị trí rất khiêm nhường, nếu đặt ông bên cạnh Lý Bạch, Đỗ Phủ, R. Tagor, Nguyễn Du, A. Puskin, Gơt...vv...Nhưng nếu mỗi thi sĩ chỉ được chọn ra hai câu thơ và chỉ hai câu thơ thôi, thì tôi ngờ rằng, có lẽ tất cả các bậc thiên tài kia đều phải ngả mũ trước hai câu thơ đó của Xuân Diệu. Hồn vía của hai câu thơ rất tuyệt vời ấy nằm trong một chữ. Đó là chữ "Đi". Còn nếu cứ tách bạch ra thì câu thơ "Trái đất ba phần tư nước mắt" chỉ là chuyện thực tế đời sống được nâng cao. Vì ai cũng biết, trái đất của chúng ta ba phần tư là biển. Từ đấy, Xuân Diệu nhìn thấy Trái đất "đi" như một giọt lệ thì hay thật. Nó hay chính ở cái chữ "đi" này. "Đi" là ở thế chủ động, và phải "đi" thì trái đất mới là một sinh linh, mới ra một thân phận. Còn "trôi" thì thành nước thật mất rồi, trái đất hóa vô cảm như dòng nước vô tri, câu thơ dễ dãi và lười nhác. Chữa thế là làm hỏng mất cả câu thơ.
Khi cho rằng câu thơ này bay ra ngoài quỹ đạo quen thuộc của thơ Xuân Diệu, là trong lòng tôi có chút băn khoăn. Thực tình trong thâm tâm, tôi ngờ câu thơ này không phải của Xuân Diệu vì nó nhuốm màu Huy Cận. Cái hay của thơ Xuân Diệu thường hay theo kiểu khác. Xuân Diệu có hai chặng đường thơ rất rõ rệt mà bất cứ người đọc tối thiểu nào cũng có thể nhận ra. Trước cách mạng là rạo rực yêu đương và sống cuống quýt, vội vàng. Sau Cách mạng, ông kéo thơ về mặt đất cần lao và cố gắng đưa thật nhiều thực tế đời sống vào thơ. Ông nhiều lần phàn nàn với tôi: "Cái mồm của thơ ta bé quá. Phải rạch nó ra để nhét đất đá của đời sống vào". Ông quan niệm thơ phải "Chân chân chân. Thật thật thật". Câu thơ này chẳng nằm trong khoảng nào trong cả đời thơ Xuân Diệu. Đã thế, nó lại có "hơi" Huy Cận rất rõ. Nỗi băn khoăn ấy cứ đeo đẳng tôi mãi. Một lần, tình cờ gặp Huy Cận, không hiểu sao, nhìn Huy Cận, tôi lại đâm ngờ vực cái linh cảm ấy của mình. Hình như tôi đã nhầm. Cái câu thơ rất siêu thoát ấy không phải của của Huy Cận chăng? Và rồi một lần khác, chẳng biết do giời xui đất khiến thế nào đó, tôi lại bộc lộ nỗi băn khoăn ấy với Huy Cận. Huy Cận đột ngột kêu lên: "Trời ơi, sao cậu biết chuyện đó? Ai nói với cậu thế? Câu thơ ấy đúng là của mình. Mình viết năm 1940 ở Huế. Xuân Diệu rất thích nên mình tặng Diệu. Bây giờ, thì mình thấy câu thơ ấy chính là của Diệu chứ không phải của Cận". Đến lúc ấy, tôi mới biết cái linh cảm của tôi đã không phản tôi. Câu thơ ấy đúng là của Huy Cận thật. Kể lại với bác và bạn đọc điều này, tôi nghĩ mình cũng chẳng làm điều gì phương hại đến uy tín của Xuân Diệu. Xuân Diệu như một đỉnh núi lớn. Có tách riêng ra một tảng đá, cho dù đó là vàng ròng ở dạng rất đặc biệt thì cũng không phải vì thế mà đỉnh núi đó thấp đi. Ngược lại, ta còn biết thêm một vẻ đẹp nữa của tình bạn giữa hai thi sĩ lớn, hai danh nhân văn hóa lớn của nền văn học hiện đại nước nhà: Xuân Diệu và Huy Cận. 

HƯ VÔ

Tác giả: Quang Huy



Cái gì cũng có một thời
Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban
Cái gì rồi cũng tiêu tan
Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ
Cái gì rồi cũng hư vô

 

Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi
Cái gì rồi cũng rụng rơi
Quả trên vườn cấm, hoa nơi địa đàng
Chỉ còn mãi với thời gian
Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ
              *   
Gắng ngồi viết cạn bài thơ
Bài thơ rồi có hư vô như mình?

ĐỢI

Tác giả: Vũ Quần Phương
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy nay còn chảy
Nước chảy bên lòng, anh đợi em
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy lại bên này
Đợi em. Em đến? Em không đến?


Nắng tắt còn anh đứng mãi đây.
Anh đứng trên cầu đợi em
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em quen thành lạ
Nước chảy…Kìa em, anh đợi em.


Bài hát Đợi
Nhạc sĩ: Huy Thục
Ca sĩ: Tân Nhàn

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

CÓ NHỮNG BÀI THƠ BUỒN MÙA THU

Cũng có những bài thơ buồn mùa Thu!



Thu bỡ ngỡ

Heo may về nhắc cây thay áo 
Hoa lá ồn lên chuyện đổi mùa
Thu còn bở ngỡ ngoài song cửa
Áo vàng hay vẫn áo xanh đây ...



Đa số cây xanh chọn lá vàng
Vài cây chọn lá đỏ cho sang
Chàng Thông … bướng bỉnh không thay áo
Chung tình chỉ mặc mỗi mầu xanh

Cây chưa thay lá thu chưa tới
Đã thấy lòng sao quá bồi hồi
Thu xanh mắt biếc, vàng thương nhớ
Chợt thấy heo may .. lại nhớ người

Một mai .. thu chẳng quay về nửa
Hỏi thu, thu chỉ thờ dài thôi
Bao nhiêu ước hẹn em còn nhớ ..?
Thề nguyền .. như nước đổ lá khoai 



Khép đôi mắt biếc, thu khẽ nói
"Chỉ sợ lòng anh … với lòng người
Anh đừng nói nữa thu buồn lắm
Thu sẽ yêu anh suốt một đời … "

Thu sẽ dâng sầu lên mắt biếc
Thu buồn thu khóc đến ngàn sau
Thu sẽ không còn yêu ai nữa
"Thu sẽ yêu anh … đến bạc đầu"

Người ta ước hẹn như thay áo
Tình đời bạc trắng tựa bôi vôi
Một trăm con gái thời nay ấy
Đừng nói ân tình, nói thủy chung (1)
                                      Chớm thu
(1) Thơ Nguyễn Bính – Xuân Tha Hương


Chỉ mình em

Tác giả: TNP
Chỉ mình em thôi nhé 
Không còn ai sau em
Anh không là biển cả
Cũng không là dòng sông

Không cuốn trôi em được
Nên tình buồn mênh mông
Chỉ mình em thôi nhé
Không còn ai sau em

Nghìn sau .. không có nhau
Em đừng hỏi vì sao ?
Anh chỉ là chiếc lá
Chiều thu buồn.. nghiêng chao

Đừng giận thu em nhé
Chút tình thu lá rơi
Một mai thu qua vội
Tình vẫn hoài xa xôi.


Một chút mùa Thu

Tác giả: Hoàng Sa
Một chút mùa thu rơi xuống thơ
Chút mưa rỉ rả điệu mong chờ
Chút trăng hắt mộng vào đêm vắng
Dăm chiếc lá vàng bay ngẩn ngơ

Cũng chỉ là thu ... là mưa nắng
Mây trôi ... trôi mãi chốn xa mờ
Mông lung tiếng gió ru nhè nhẹ
Để lại chiều thu một chút mơ

Một chút mùa thu ... cùng với em
Là bâng khuâng nhặt tiếng thơ mềm
Là loay hoay viết lời ngơ ngẩn
Là gió thu buồn ôm lấy đêm

Nửa chừng ... thơ chẳng muốn thêm
Ngổn ngang câu chữ bên thềm gió thu.




Bắt gặp mùa thu

Tác giả: Nguyễn Bính
Xơ xác hồ sen đã nhạt hương
Bên song hoa lựu cũng phai hường
Sớm mai lá úa rơi từng trận
Bắt gặp mùa thu khắp nẻo đường

Tóc liễu hong dài nỗi nhớ nhung
Trăng nghiêng nửa mái gội mơ mòng
Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ
Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng

Thu về sông núi bỗng tiêu sơ
Cây rũ vườn xiêu, cỏ áy bờ
Xử nữ đôi cô buồn tựa cửa
Nghe mùa gió lạnh cắn môi tơ

Sương phủ lưng đồi rặng núi xa
Thương ôi! Lữ khách nhớ quê nhà
Mấy thu mưa gió ngoài thiên hạ
Vườn cũ còn chăng cúc nở hoa?

Cha già ngừng chén biếng ngâm thơ
Đưa mắt nhìn theo hút dặm mờ
Xe ngựa người về tung cát bụi
Con mình không một lá thư đưa

Nghìn lạy cha già lượng thứ cho
Trót thân con vướng nợ giang hồ
Lòng son bán rẻ vào sương gió
Lãi được gì đâu? Đã mấy thu!

Một chút công danh rất hão huyền
Và dang dở nữa cuộc tình duyên
Thu sang, quán lẻ con đăm đắm
Rõi bóng quê nhà mắt lệ hoen.


Chợt nhớ mùa thu

Tác giả: Trahoanu
Có một thời hoa cúc của riêng em
Mùa thu ghé gió về đưa phím nhạc
Em hồn nhiên đôi mắt tròn ngơ ngác
Bản nhạc tình hoa cúc gợi vầng trăng!

Có một thời – thời hoa cỏ tung tăng
Vầng trăng khuyết giắt lược cài mái tóc
Em hồn nhiên trong veo đôi mắt ngọc
Heo may về khe khẽ.. đợi tình quân…


Có một thời hoa cúc vàng trước sân
Trăng cuối thu chợt rũ buồn xao xác
Bài hát xưa không còn ngân tiếng nhạc
Dáng em gầy in trên lối hoa phai…
Có một thời-một thời của riêng ai?

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

NHỮNG MIỀN GÁI ĐẸP VIỆT NAM

Nếu nhữnggái đẹp Hà Thành làm mê đắm lòng người bởi vẻ dịu dàng, nền nã, “gái xứ Tuyên” khiến người ta ngẩn ngơ vì nét thanh thoát đằm thắm thì gái Huế lại ghi dấu bởi sự đoan trang, nhỏ nhẹ…

Gái đẹp Tuyên Quang – đằm thắm, thanh thoát
Câu thành ngữ “Chè Thái, gái Tuyên” không biết có từ bao giờ nhưng đến nay đã trở thành câu cửa miệng, ví hương vị tinh tế, thơm ngọt khó quên của chè ở vùng đất Thái Nguyên với nét đằm thắm, thanh thoát của những người con gái đẹp xứ Tuyên.
Nếu như chè Thái Nguyên đã trở thành đặc sản nức tiếng thì vẻ hút hồn của con gái đẹp Tuyên Quang cũng khiến lòng người thổn thức.

Gái đẹp xứ Tuyên - đằm thắm thanh thoát (Ảnh minh họa)
Gái đẹp xứ Tuyên – đằm thắm thanh thoát (Ảnh minh họa)

“Gái đẹp xứ Tuyên” không chỉ cuốn hút ở hình thức bên ngoài mà còn làm say lòng người với vẻ đẹp tâm hồn. Đó là nét dịu dàng, đằm thắm, nết na, sự khéo léo trong cách ăn, ở, đi đứng, nói năng.
Theo một số tài liệu ghi lại, nơi này xưa là thành trì của vua tôi nhà Mạc nên cũng lắm mỹ nhân tụ hội làm thê thiếp. Vương triều sụp đổ, nhiều cung tần ly tán và cưới dân thường, dần sinh sôi bao thế hệ người con gái đẹp. Thêm nữa, đây là vùng đất trung du miền núi có sông Lô, hồ Na Hang, núi Bạch Mã, Cham Chu… hội đủ linh khí hiền hòa lẫn hoang dã dữ dội của trời đất khiến con người luôn khỏe đẹp, tươi vui.

Gái Hà thành – vẻ dịu dàng, nền nã, thùy mị
Những người con gái đẹp đất kinh kỳ luôn toát lên vẻ đẹp của sự dịu dàng, nết na, thùy mị, đảm đang. Nét đẹp của thiếu nữ Hà thành xưa không chỉ thể hiện ở gương mặt, dáng người mà còn ở cách ăn mặc, đi đứng, nói năng.

Gái đẹp Hà thành - dịu dàng, nền nã, thùy mị (Ảnh minh họa)
Gái đẹp Hà thành – dịu dàng, nền nã, thùy mị (Ảnh minh họa)

Nét tề chỉnh là đặc trưng của gái đẹp Hà thành, sang mà không loè loẹt, đẹp mà nền nã; dù chỉ mặc áo vải thường cũng vẫn phẳng phiu, gọn ghẽ, kín đáo.
Con gái Hà Nội ngày ấy biết cách trang điểm hơn ai hết. Chỉ phớt qua một chút phấn, phủ một lớp son nhẹ, kín đáo một giọt nước hoa nơi bàn tay, trong chiếc khăn tay, chỉ đủ thoảng nhẹ như một hương nhài thơm xa cũng đủ làm người người say đắm.

nhung-mien-gai-dep-noi-tieng-nhat-viet-nam3 

Vẻ cổ điển, dịu dàng nhưng không kém phần tinh tế của thiếu nữ Hà thành được kế thừa từ nét đẹp văn hóa của con người Thăng Long – Hà Nội ngàn năm tuổi.

Người con gái đẹp Nha Mân – hậu duệ của cung tần mỹ nữ xưa
Có lẽ câu ca dao “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” đã lột tả chính xác về miền đất nổi tiếng nhiều giai nhân, mỹ nữ này.

Gái đẹp Nha Mân (Ảnh minh họa)
Gái đẹp Nha Mân (Ảnh minh họa)

Nha Mân là địa danh thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Hàng trăm năm nay, Nha Mân nổi danh là vùng đất có nhiều người con gái đẹp.
Theo một số tài liệu ghi lại, vào năm 1785, chúa Nguyễn Ánh sau khi thua quân Tây Sơn trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút đã cùng cả đoàn từ tướng đến quân, tùy tùng, hậu cung theo sông Tiền bỏ trốn. Đến vùng Nha Mân này, bị quân nhà Nguyễn truy đuổi gắt quá nên buộc phải bỏ lại hàng trăm thê thiếp ở đây để chạy.

nhung-mien-gai-dep-noi-tieng-nhat-viet-nam5

Tương truyền, những mỹ nhân bị “bỏ rơi” sau đó lấy chồng là người địa phương, trở thành nông dân nhưng con cái do họ sinh ra đều đẹp như tiên đồng ngọc nữ. Chính nhờ dòng máu cung phi mỹ nữ mà xứ Nha Mân mới có nhiều người con gái đẹp như ngày nay.

Miền gái đẹp Huế – đoan trang, dịu dàng, nhỏ nhẹ và có duyên
Nói năng từ tốn, điềm đạm nhưng lại quả quyết, dứt khoát là nét cuốn hút đặc trưng của người con gái đẹp sông Hương.

Gái đẹp Huế - đoan trang, dịu dàng, nhỏ nhẹ và có duyên (Ảnh minh họa)
Gái đẹp Huế – đoan trang, dịu dàng, nhỏ nhẹ và có duyên (Ảnh minh họa)

Giọng nói nhỏ nhẹ và rất duyên của những người con gái đẹp Huế được một nhà thơ mô tả một cách hình tượng: “Em ơi giọng Huế có chi. Mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa”.
Trong lịch sử, Huế từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong rồi trở thành kinh đô của nước Đại Việt thời Quang Trung – Nguyễn Huệ nên ngoài cung cấm còn có nhiều phủ đệ, quan viên, con vua cháu chúa rất nhiều. Sinh hoạt của tầng lớp quý tộc, trong đó có cách ăn nói của họ đã ảnh hưởng đến lối sống của vùng đất này.

nhung-mien-gai-dep-noi-tieng-nhat-viet-nam7 

Vua chúa với quyền uy của mình không cần ăn to nói lớn, quan lại cũng không dám nói mạnh trước đức vua và triều thần. Ở kinh đô, tai vách mạch dừng, lời nói phải từ tốn nhỏ nhẹ, tránh lỡ lời mà mang vạ vào thân. Chốn kinh đô cũng cần sự trang nghiêm, kính cẩn, yên tĩnh cho sinh hoạt của vương triều cũng như cộng đồng xã hội phong kiến nơi đây. Trong suốt gần 350 năm, phong thái ấy đủ để lại dấu ấn trong cách giao tiếp, ứng xử của con người Huế.

Mường So – “Vùng đất mỹ nữ” ở Tây Bắc
Ở thung lũng Mường So (Phong Thổ, Lai Châu) có một truyền thuyết kể rằng Nàng Han, người con gái Thái đẹp nhất trời Tây Bắc, đã ban cho người dân nơi đây một dòng suối quý được “hóa thân” từ bộ váy áo của mình để hàng nghìn năm sau, bất cứ thiếu nữ nào tắm gội, vẫy vùng trên dòng suối ấy đều trở nên xinh đẹp lạ thường.

Tương truyền, những cô gái tắm gội trên dòng suối Mường So đều có làn da căng mịn, tràn đầy nhựa sống.
Tương truyền, những cô gái tắm gội trên dòng suối Mường So đều có làn da căng mịn, tràn đầy nhựa sống.

Theo những bậc cao niên trong vùng, Nàng Han được sinh ra trên đất Mường So. Trong tâm linh của khắp xứ Thái, xứ Mường Tây Bắc, Nàng Han là biểu tượng của người con gái tài giỏi và có vẻ đẹp vẹn toàn như hoa ban buổi sớm.
Vẻ đẹp ấy đã được khắc họa trong câu hát: “Người đẹp ra suối tắm, cá tìm về xem chân. Người đẹp đi lên nương, dâu, lúa tìm về xem tay. Người đẹp đi lên rừng, hoa tìm về xem mặt. Người đẹp hát trong rừng, chim ngập ngừng lắng nghe. Người đẹp bước chân xòe, trai Mường So ngây ngất…”
Không chỉ có nhan sắc rực rỡ, Nàng Han còn có đôi tay khéo léo, đặc biệt là trong việc kéo sợi, thêu thùa, dệt vải. Khi giặc ngoại xâm kéo đến xâm lược Mường So, Nàng Han đã anh dũng đứng lên kêu gọi trai tráng dựng cờ giết giặc. Thắng trận trở về, nàng được nhân dân trong vùng chào đón và suy tôn là “nữ tướng”.
Một đêm sáng trăng, Nàng Han trút bỏ bộ áo cóm, một trang phục của thiếu nữ Thái, để bay về trời. Bộ váy áo đó đã biến thành dòng suối Mường So mà bất cứ người con gái nào tắm ở đó thì đều có làn da đẹp tựa ban trắng trên rừng, môi đỏ như quả bồ quân. Nhờ dòng suối quý, Mường So trở thành “miền mỹ nữ” từ đó.

Thiếu nữ Thái có vẻ đẹp vẹn toàn như hoa ban buổi sớm.
Thiếu nữ Thái có vẻ đẹp vẹn toàn như hoa ban buổi sớm.

Cũng từ ngày ấy, các vị vua, chúa đất ở khắp miền Tây Bắc đều cho người đi tìm những cô gái đẹp ở Mường So mang về dinh thự để đưa vào đội múa xòe. Các cô được chọn phải có làn da thật trắng, mái tóc đen nhánh, đôi chân cao thẳng, eo thắt, ngực nở và nhất là gương mặt phải đậm đà, xinh tươi như đóa hoa rừng mới nở.
Ngay cả đến những năm đầu thế kỷ 20, Mường So vẫn vang danh là vùng đất nhiều mỹ nữ. Không chỉ những chúa đất vùng sơn cước mà quan ta, quan Tây miền xuôi cũng luôn khao khát được một lần diện kiến nét đẹp đến mê hồn của những cô gái với điệu xòe Thái quay cuồng làm nghiêng ngả núi rừng.

Miền gái đẹp xứ  Thanh
Người dân tộc Thái ở Mường Lè (huyện vùng cao Quan Hóa, Thanh Hóa) khai thiên, lập địa ở mảnh đất mạch rồng cuộn, nước dồi dào, sản vật núi rừng nhiều vô kể, nên đời sống đồng bào nơi đây luôn ấm no, hạnh phúc.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Mảnh đất lành này là nơi sinh ra những cô gái Thái đẹp hút hồn, hấp dẫn lạ thường. Cái đẹp của cô gái Thái Mường Lè đến từ đôi mắt biết cười, nước da trắng như trứng gà bóc, giọng nói nhẹ nhàng như mật rót vào tai
Lý giải về vẻ mê hồn, đằm thắm rất đặc trưng của cô gái đẹp Thái xứ Thanh, nhiều già làng, trưởng bản kể rằng tổ tiên lập làng bản của họ từng là thổ ty, lang đạo nên lấy vợ đều lựa chọn những cô gái đẹp lộng lẫy ở khắp vùng.
Có tiếng là vùng đất sản sinh ra nhiều cô gái đẹp nên thời điểm vùng bị giặc ngoại xâm tạm chiếm, thỉnh thoảng bọn giặc lại vào vùng bắt những cô gái đẹp đi. Thế nên, cứ mỗi lần nghe tin giặc vào bản bắt người, dân trong bản lại dẫn con, em của mình trốn vào trong rừng cho đến khi chúng rời khỏi bản.

nhung-mien-gai-dep-noi-tieng-nhat-viet-nam11 

Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng con gái Thái nổi tiếng đẹp người, khéo và ngoan hiền, bởi ngay từ nhỏ đã được cha mẹ chỉ dạy rất cẩn thận từng việc làm, ăn uống, đi đứng, nói năng, đối nhân xử thế hiền dịu, không để mất lòng người.
Các cô gái đẹp người Thái ở Mường Tè sống gần gũi với thiên nhiên. Con gái Thái 15-17 tuổi phải thạo việc xe tơ, dệt thổ cẩm, biết làm cái chăn, cái gối, cái đệm, khăn piêu trước khi về nhà chồng.
Họ cũng giữ được vẻ đẹp mặn mà ngay cả khi về làm vợ, làm mẹ bởi những tập tục như hơ người vào lửa sau khi sinh, uống nước sôi đun trong ống nứa….
Lại có phân tích cho rằng vùng đất này có điều kiện tự nhiên tốt lành, độ dốc nhiều con suối và sông Mã cao; nước ở đây được hấp thụ bởi luồng khí trong lành từ những cánh rừng, ngọn núi; ăn uống và hít thở không khí trong lành đã tạo nên dáng vẻ cân đối và làn da sáng mịn, săn chắc của những cô gái đẹp dân tộc Thái ở Mường Lè.

“Thôn cung nữ” toàn gái đẹp ở Quảng Ninh
Nghĩ đến con gái Quảng Ninh, nhiều người nghĩ đến nước da đen đúa và bụi bặm, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Nếu bạn đến với Quảng Ninh, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy con gái vùng than da lại trắng như tuyết.

Người đẹp Quảng Ninh
Người đẹp Quảng Ninh

Đặc biệt, ở vùng đất phật Yên Tử (Uông Bí, Quảng Ninh) có thôn Năm Mẫu được mệnh danh là “thôn cung nữ”, nổi tiếng nhiều người con gái đẹp.

Gái đẹp ở "thôn cung nữ"
Gái đẹp ở “thôn cung nữ”

Truyền thuyết kể rằng, Thượng hoàng Trần Nhân Tông cách đây trên 700 năm, một ngày mùa đông đã từ bỏ kinh thành Thăng Long đi về hướng đông để tìm núi tu luyện, đến vùng đất Yên Tử thì dừng chân. Lúc đi có 300 cung tần mỹ nữ theo hầu.
Khi đến Yên Tử, do không được vua cho ở cùng nơi đất Phật, nên các cung tần mỹ nữ lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Đường về kinh thành thì xa xôi vạn dặm, quân lính của tân vương phong tỏa khắp nơi, ở cũng khó mà đi cũng khó. Để giữ trọn đạo, 300 cung tần mỹ nữ đã trầm mình xuống con suối giữa đại ngàn Yên Tử.
Đúng thời điểm đó có 5 chàng trai người Dao bản địa đi kiếm củi về ngang qua đã nhảy xuống và cứu được 5 cô gái đẹp. Để tri ân, những cô gái này xin được làm vợ để “nâng khăn sửa túi” cho chàng trai đã cứu mình. Nhờ dòng máu của những giai nhân đến từ kinh thành, con gái của vùng đất này được thừa hưởng vẻ đẹp sắc nước hương trời cũng như phong cách lịch lãm.
Khi năm bà cung nữ qua đời, dân làng Thượng Yên Công đã lập đền thờ, gọi là đền Năm Mẫu. Ngôi đền này hiện vẫn nằm ở Thượng Yên Công và khu vực được tương truyền có 5 cung tần làm dâu không biết tự lúc nào có tên là thôn Năm Mẫu.
(Trí Thức Trẻ)