Tác giả: Vũ Bằng
Ðọc Miếng ngon Hà Nội, người quen ăn uống rụt rè có lẽ cũng nảy ý muốn dùng thử món thịt
... Nhưng đến tháng ba thì trời đất quả là kỳ ảo.
Bảo rằng tháng ấy còn rét, không đúng, mà bảo hết rét rồi cũng không đúng nữa.
Trời
trong như ngọc, đất sạch như lau. Ngủ dậy lúc còn tối trời, anh ngồi
uống nước trà đợi trời sáng thì uống chưa xong ấm nước, anh bỗng thấy có
những đám mây hồng từ phía đông kéo tới giữa một nền trời xanh ngăn
ngắt một mầu. Ở đằng sau nhà, chim hót ríu ran, đánh thức những người
còn đang thiêm thiếp. Anh mở cửa nhìn ra ngoài thì lá cây sạch bong ra,
lóng lánh như ở trong một phim ảnh mầu tuyệt đẹp: sương móc ban đêm rửa
hoa lá cỏ cây, rửa cả cát bụi trên các nẻo đường thành phố.
Giẫm
một đôi giầy lên trên đất mịn màng, anh cảm thấy cái mát mẻ của đất, của
sương vương trên cỏ thấm vào lòng anh y như thể anh đi chân không vậy.
Chim vẫn hót ríu ran. Anh nhìn lên trời thì từ những đám mây hồng tỏa ra
một thứ ánh sáng trắng như sữa, nhẹ như bông, tràn lan trong không khí
và úp chụp lấy các lùm cây nội cỏ. Anh tự nhủ: "Hôm nay chắc nắng to."
Anh sửa soạn một bộ quần áo mỏng để mặc cho nhẹ nhõm và dễ chịu.
Thì
quả nhiên, đến buổi trưa nắng thực, nhưng đi lên lầu ngủ vừa dậy, anh
cảm thấy có một cái gì rất lạ xảy ra. Anh nhắm mắt lại, nằm lặng yên
nghe ngóng, để xem cái tiếng reo ở ngoài vườn vọng lại là tiếng gì mà
đến bất thình lình và xôn xao như vậy. Thì ra đó là tiếng reo của gió,
của mây, của cây, của lá: chính trong khi ta đương mộng về Tây Phàn với
mấy cô nàng sơn cước, trời đã chuyển bất ngờ, đương nắng thành râm, và
chỉ trong khoảnh khắc, rét của cuối chạp, đầu xuân đã trở về trên cánh
gió, giữa một khoảng trời tháng ba nắng ấm.
Cái tháng ba ở Bắc có
những ngày huyền ảo như thế đấy. Nếu là người thích ví von, anh có thể
ví tháng ấy với một cô gái có sắc đẹp nghiêng thành nghiêng nước.
Ðẹp
đến nghiêng nước nghiêng thành thì có quyền làm nũng như Dương Quí Phi
làm nũng vua Ðường Minh Hoàng: không đau răng cũng nhăn mặt cho thêm
xinh, mà ví có đau răng thực thì phải ăn trái lệ chi mà quân sĩ phải
rong ngựa đi năm sáu ngày trời mới mong kiếm được. Yêu Quí Phi quá, thì
Quí Phi càng làm nũng, mà Ðường Minh Hoàng lại càng sủng ái Quí Phi hơn.
Thì người Bắc đối với tháng ba cũng vậy: yêu cái nắng ấm của tháng ba
nhưng cũng yêu cái rét đột ngột của tháng ba, mà nếu ví dụ trong tháng
ấy có ngày nào nắng chói chan làm cho "chó già le lưỡi" thì cũng cứ yêu
luôn, yêu không kỳ quản. Người đẹp mà làm nũng thì lại càng đẹp hơn.
Tôi
yêu tháng ba đất Bắc một phần vì thế và tôi không muốn tin rằng cái rét
tháng ba có thể làm cho "bà già chết cóng". Tôi chỉ thích nghĩ rằng cái
rét đôi khi bất ưng trở về với tháng ba là một cái rét thơ mộng, cái
rét của một trời đầy hương và ngát hoa, trong đó có những chàng trai mặc
quần đỏ ngồi bên án sách ngâm thơ, nhưng gặp lúc ngửa nghiêng thì:
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu...
và những người đàn bà thủ tiết thờ chồng và than khóc một mình:
Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng nguôi...
... Trông chàng lòng rượi rượi buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nàng Bân cũng thuộc vào loại chinh phụ đó.
Thương người ở bên trời, ngay từ khi giá rét bắt đầu, nàng đã lo gửi áo rét cho chồng, nhưng...
Nàng Bân may áo cho chồng,
May ba tháng ròng mới được cửa tay.
Lạy trời cho cả heo may,
Nàng Bân chết quách đêm nay cho rồi.
May
ba tháng trời mới được có một cái cái cửa tay, người chinh phụ ấy hẳn
là buồn quá cho nên thấy gió rét bất ưng trở về với tháng ba, thương
người quan tái, không kịp có áo gửi đi, nàng cầu Trời Phật cho nàng chết
quách.
Hỡi ơi, ở đời này, vào bất cứ thời nào, lại chẳng có hàng triệu nàng Bân! Vì thế nhà thi sĩ không thể không gieo một vần đầy lệ:
Chàng bên trời, thiếp ở Ngô,
Chàng đi nhớ thiếp, thiếp mơ tới chàng.
Thư bao nhiêu, lệ bao hàng,
Lạnh về, áo đến tay chàng hay chưa?
Riêng
cái tên mà người ta đặt cho cái rét muộn màng đó đã mơ mộng lắm rồi:
rét nàng Bân. Nhưng có ai đã từng rét cái rét ấy, sầu cái sầu ấy đôi
lần, tất đều nhận thức rằng cái rét ấy còn chứa đựng một cái gì đẹp như
thế hay hơn thế: đàn bà, con gái trời đã cho xinh đẹp, gặp cái rét nàng
Bân tự nhiên đẹp trội hẳn lên, như thể có một chiếc đũa thần làm biến
đổi cả máu huyết, màu da, con mắt, miệng cười, tiếng nói. Từ xa, ta cảm
thấy người nào cũng thơm thơm như những nụ tầm xuân.
Vào
tháng chạp, tháng giêng, tức là vào cái cữ rét đài, rét lộc, không khí
có lúc hanh hao, khô ráo làm cho má và môi người đẹp nẻ ra thành những
vết chân chim bé nhỏ. Ðến cái rét này thì khác hẳn : tự nó đã đẹp và nên
thơ, nó lại còn làm cho má và môi của đàn bà con gái cũng nẻ, nhưng da
không nứt rạn mà chỉ ửng hồng lên như thể da một trái đào tơ mịn màng
mơn mởn, làm cho chính Liễu Hạ Huệ có sống lại cũng phải bắt thèm...
Cỏ
cây mây nước thấy người ta, trong tháng ấy, tự nhiên đẹp rực rỡ, đẹp
não nùng, hình như hờn giận và cố ganh đua để cho xanh bằng người, thắm
bằng người.
Từ tháng giêng, cây cối bắt đầu nảy lộc nhưng đến
tháng hai lá non mới bắt đầu ló ra và hoa cũng bắt đầu hé mở nhụy thơm
không còn ngậm ý, giấu tình như trước nữa. Ðó là mùa "lá bàng tai trâu,
sầu đâu chân chó": trên các cành bàng, lá non hé mở và cuốn lại, chưa
bung ra hết, y như thể tai trâu, còn cây sầu đâu thì vào khoảng này cũng
trổ lá non nhưng chúm lại với nhau thành một hình tròn trông giống hệt
vệt chân con chó để lại trên mặt đất, sau một đêm mưa tuyết.
Cũng
như người con gái dậy thì lớn lên và đẹp không ai biết, chỉ khoảng cuối
tháng hai, đầu tháng ba thì lá bàng, lá sầu đâu nở bung ra. Nhìn lên,
lá non xanh mầu cốm giót rún rẩy đu đưa một cách đa tình, làm cho người
đa cảm tưởng tượng như cây cối giơ những khăn tay bé nhỏ xanh xanh, vàng
vàng ra chào mừng, vẫy gọi... Ðến cuối tháng ba, lá bàng sum sê che kín
cả đường đi. Dọc theo con sông đào chạy ngang các thôn xóm ở Vụ Bản,
Hải Hậu... những cây bàng đứng soi bóng xuống sông đào chạy dài tít tắp
hàng chục cây số, trông như thể một cái tàn bất tuyệt, khổng lồ. Ðứng ở
dưới nhìn lên, mình cảm thấy đứng ở trong một cái hang kết bằng lá non
và không thể không nhớ lại lúc nhỏ còn đi học, sân nhà trường chi chít
gốc bàng...
Ðó là những cây bàng nguyên giống, chớ không lai căng
như những cây bàng mà ta thấy ở đây, mọc cao vun vút và tua tủa lá trên
trời. Bàng chính thống cao lên chừng hai sải tay thì lá xòe ra như cái
tán kiểu cây trứng cá, lá to xanh điểm những nốt vàng mầu đậm. Lá ấy
dùng để nhuộm hàng thì hàng đen không chịu được. Nhưng cái tuổi lên
chín, lên mười đâu có thèm biết nhuộm làm gì. Sự mê thích của đứa trẻ
nổi tiếng phá phách là tôi hồi ấy, mỗi khi tới mùa bàng, là trèo lên cây
đi tìm tổ chim bạc má vì giống chim này ưa làm tổ trong những cái lá
bàng cuốn lại và lấy dãi làm chỉ "khâu" hai đầu nối lá lại với nhau.
Trong
khi đi bắt tổ chim như thế, các cậu bé thỉnh thoảng lại "vớ" được một
cái sâu kèn thì sướng như điên. Lấy que đẩy con sâu ở trong tổ nó ra bóp
giập một đầu lại, phùng mang trợn mắt lên thổi toe một tiếng, anh cảm
thấy mình là một tên tướng thổi kèn xuất quân. Anh chạy khắp nhà, thổi
ầm cả lên, ăn không biết bao nhiêu chổi lông gà vào đít, nhưng có sâu
kèn trong túi, không dùng không chịu được, anh lại toe vài tiếng nữa...
Chết thì thôi. Cái tuổi ấy đâu có ngán đòn, ngán chửi!
Bị đánh
lắm thì phản ứng cha mẹ một cách tiêu cực, móc túi lấy ra một vốc quả
bàng để ăn. Bàng, ngon nhất là bàng quế, hột đỏ như son, thơm có khi còn
hơn cả đào: đào để gần mình mới thấy thơm chớ vớ được một trái bàng quế
thì, nói thực, để cách xa mình cả một sải tay, đã ngửi thấy mùi thơm
phưng phức!
Nếu không kiếm được bàng quế, cố mầy mò, thám thính
vớ được trái bàng đực ăn cũng mê ly hết sức: bàng cái nhiều hơn và mọc
từng chùm, chớ bàng đực thì có phong thái đặc biệt "anh hùng độc lập"
đứng một mình một chỗ, không thèm kéo bè kéo đảng với ai. Bàng đực có
trái to bằng nắm tay đứa trẻ.
Những người không sành thường nghĩ
bàng ăn chát. Thực ra, vớ được một quả bàng đực, nhất là bàng quế, cắn
một cái ngập răng, nhai thủng thỉnh, còn ngọt hơn cả cam hay táo. Nếu ăn
hết một trái mà anh thấy còn thèm thì lấy hòn đá đập cái hột ra; anh sẽ
có một cái nhân bùi như nhân trám; và có nhiều, đem đồ xôi trước cúng
cụ, sau ăn thì tuyệt.
Có người bảo cây đa cây đề là cây tiêu biểu
của nước ta. Riêng tôi thấy cây bàng là thứ cây đặc biệt nhất: cành lá
đã sum sê, đứng xa trông về lại đẹp; mặt khác, cả cái cây từ lá cho đến
rễ, từ búp cho đến cành đều dùng được việc, không có một cái gì bỏ phí.
Còn
cây sầu đâu? Cây sầu đâu cũng vậy. Lá, đưa ngâm ngoài ruộng sâm sấp
nước cho ải rồi đem bón nhất định là hơn hẳn phân hóa học, còn thân cây
cố chăm nom cho thẳng, dăm bảy năm hạ xuống làm cột nhà, bóng cứ lộn lên
mà mối chỉ còn cách trông mà khóc vì không thể nào đục nổi! Thế nhưng
tại sao người ta không gọi sầu đâu là xoan ta, lại kêu bằng một cái tên
buồn như thế? Phải chăng là tại vì cây này trong héo ngoài tươi, tượng
trưng cho những người đẹp u buồn, ngoài miệng thì cười mà thực ra hàng
bữa vẫn chan cơm bằng nước mắt?
Cũng vào khoảng cuối tháng ba,
các cây sầu đâu mọc ở các vùng quê Bắc kỳ đơm hoa và người ta thấy hoa
sầu đâu nở như cười. Hoa nhỏ bé, lấm tấm mấy chấm đen, nở từng chùm, đu
đưa như đưa võng mỗi khi có gió. Có người cho hoa đó là một thứ hoa
không vương giả như hoa đào, phong lan, mai mận... Nhưng các cụ thực
biết thưởng hoa lại quả quyết không có một loại hoa nào thơm một cách
chân thật, quê mùa như thế. Bây giờ nhắc đến loại hoa này, tôi vẫn còn
nhớ như in những buổi chiều vàng đi thơ thẩn về miền quê, bỗng lạc bước
tới một vùng cát trắng ở Xuân Trường, Hải Hậu, ở Phố Cát, Lương Ðường, ở
Bình Thủy, Mai Ðộng... san sát những căn nhà nhỏ bé xanh um cây cối,
trắng xóa tường vôi, mà nhà nào cũng có vài gốc sầu đâu vượt lên như
ngạo nghễ khoe với trời cao ngất ngất những chùm bông phơn phớt màu hoa
cà êm êm.
Hỡi người du khách đa xuân tứ! Tôi đố anh nhìn thấy
những cái cây mảnh mai yểu điệu mang từng chùm hoa diễm kiều như thế mà
lại không dừng chân đứng lại! Tự nhiên anh thấy tim anh nhoi nhói.
Ở
đời, thỉnh thoảng ta lại có cảm giác như thế mỗi khi sung sướng quá,
mỗi khi yêu nhiều quá. Yêu hoa sầu đâu không để vào đâu cho hết, nhớ hoa
sầu đâu ở quê hương ta không biết mấy mươi! Người mắc bệnh lưu ly đã xa
cách phần tử mấy chục năm rồi mà lạ thay sao cứ đến tháng ba, nhớ đến
sầu đâu mình vẫn cảm như còn thấy thoang thoảng đâu đây một mùi thơm mát
mẻ, dịu dàng, mát mẻ còn hơn cả hương cau, mà dịu dàng có khi hơn cả
mùi thơm hoa mộc! Mùi thơm huyền diệu đó hòa với mùi của đất ruộng cấy
vỡ ra, mùi đậu đã già mà người nông phu đi hái để đem về phơi nắng, mùi
mạ non lên sớm xanh màu hoa lý và đẹp như những bức tranh lập thể, mùi
khoai sắn, mùi rau cần ở các ruộng sâm sấp nước đưa lên... bao nhiêu thứ
đó, bấy nhiêu thương yêu... có phải đã có một lúc anh cảm thấy như ngây
ngất, như nhức đầu, như say một thứ men gì phải không?
(...)
Giữa
bầu không khí thơm ngát hương sầu đâu ấy, anh thử bảo người nhà hái về
mấy ngọn rau cần đầu mùa, nấu một bát canh với tôm he mà ăn với chén gạo
vàng xem có phải anh thấy đúng in những cảm giác đó không? (1)
Rau cần là một thứ rau rẻ tiền cấy trong ao, cứ đến giữa tháng ba thì
tốt lá, dài rễ, nhổ lên ăn ngay thì ngọt lừ, khó có thứ rau nào sánh
kịp. Nếu nấu canh mãi chán, anh có thể xào rau cần với huyết heo bóp
nhỏ, hay muốn cầu kỳ hơn một chút thì xào với lòng heo, thịt bò. Rau
cần, với cải bắp cho một ít rau răm vào, muối xổi, lấy ra ăn với thịt
đông hay kho tầu, nó lạ miệng và có khi còn thú hơn cả dưa cải nữa...
Nhưng ăn cháo ám mà không có rau cần thì... hỏng, y như thể là vào một
khoảng vườn mà không có hoa, đi trong mùa xuân mà không thấy bướm.
Tháng ba mà không có những ao rau cần xanh ngăn ngắt, tươi hơn hớn không phải là tháng ba Bắc Việt.
Gió xuân mơn cánh hoa đào,
Mưa xuân phấp phới trên ao rau cần.
Ấy, đất nước này chỉ đẹp giản dị thế thôi, hiền lành thế thôi (...)
(Trong Thương nhớ mười hai)