Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

KỲ LẠ NHỮNG LOẠI CÁ ĐI BỘ TRÊN CẠN

(VTC News) - Đôi khi để thích nghi những con cá phải thoát ly khỏi môi trường nước để đi lại, kiếm ăn trên cạn. Những loài cá dưới đây đều là một bước đột phá trong sự sáng tạo của tự nhiên.


1. Cá phổi
Kỳ lạ những loài cá thích đi bộ trên cạn
Cá phổi có tên khoa học là Dipnoi và có khả năng hít thở không khí như sinh vật trên cạn. Hiện nay các loài cá phổi chỉ còn sống trong các ao hồ nước ngọt ở Châu Phi, Nam Mỹ và Úc.

Đây là các khu vực có khí hậu khắc nghiệt nhất hành tinh, với lượng mưa hằng năm ít và nhiệt độ mùa hè rất nóng. Điều đó làm cho các ao hồ sẽ trở nên khô cạn vào mùa hè. Các loài cá và các sinh vật khác trong ao hồ một là di cư hoặc là chết khô. Tuy nhiên loài cá phổi này vẫn có thể sống sót qua mùa hè khô hạn bằng cách giấu mình trong bùn và ngủ hè. Lúc này chúng sẽ hít thở không khí, và hạn chế trao đổi chất để sống sót 

2. Cá Lon mây Thái Bình Dương
Kỳ lạ những loài cá thích đi bộ trên cạn
Loài cá này có tên khoa học là Alticus arnoldorum - là loài cá sống trên đất liền và có thể nhảy rất xa dù không có chân. Đây là một loài cá biển nhưng rất kỳ lạ khi chúng dành phần lớn thời gian để leo trên các bờ đá. 

Chúng di chuyển rất nhanh trên các bề mặt lởm chởm đá bằng cách sử dụng hành động xoắn đuôi độc đáo kết hợp với các vây ngực và vây đuôi mở rộng để bám vào gần như bất cứ bề mặt nào. Để nhanh chóng lên được bề mặt cao hơn, chúng cũng có thể xoắn cơ thể mình và búng đuôi để nhảy xa gấp nhiều lần chiều dài cơ thể.

3. Cá Nheo
Kỳ lạ những loài cá thích đi bộ trên cạn
Cá nheo đi bộ có tên khoa học là Clarias batrachus, có nguồn gốc từ Thái Lan. Loài cá này sử dụng khả năng hít thở để trong thời gian ngắn có thể “đi”. Những đoạn đường ẩm ướt hay con phố ngập nước là địa hình lý tưởng của loài cá này.

4. Cá Thòi lòi
Kỳ lạ những loài cá thích đi bộ trên cạn
Cá  Thòi Loi  thuộc họ cá Bống Trắng phân bố rộng tại nhiều lãnh thổ trên thế giới trong đó có Việt Nam. Chúng thường sống ở các bãi lầy gần cửa sông, và sống trong các hang ốc vét ở bãi lầy. 

Cá có khả năng di chuyển trên mặt bùn khá nhanh, gần như là chạy nhảy trên bùn. Với hệ thống hô hấp bằng phổi cá thòi lòi có thể thở trên cạn,  khi ở dưới nước thì chúng vẫn thở bằng mang  như các loài cá khác.Cá Thòi Loi trưởng thành có chiều dài cơ thể đến 27cm. 

5. Chim cánh cụt
Kỳ lạ những loài cá thích đi bộ trên cạn
Chim cánh cụt là một loài chim không cánh sinh sống chủ yếu ở Nam Cực. Chúng là loài chim duy nhất trên trái đất không bay được và dành phần lớn thời gian ở dưới nước để bắt cá.

Sở dĩ chúng có thể bơi lội được ở dưới nước là do đôi cánh của chúng đã phát triển thành chân chèo. Chúng rất thích ăn nhuyễn thể, cá và mực. Chúng có thể lặn sâu dưới biển trong thời gian rất dài. 

6. Cá Dơi mũi dài
Kỳ lạ những loài cá thích đi bộ trên cạn
Sinh vật lạ có thân hình giống cá nhưng lại có đôi chân ếch này có thể là loài cá dơi mũi dài được biết đến với khả năng bật nhảy và đi lại trên cạn. Chúng có tên khoa học là Ogcocephalus Corniger có cấu tạo mang kết hợp hai phần: một phần để hô hấp dưới nước còn phần kia dùng để thở không khí trên cạn.

Cá dơi mũi dài có khả năng bơi rất kém nhưng lại có cơ ngực và xương chậu phát triển, đó chính là ưu điểm giúp cho loài cá này có thể đi lại được. Ngoài ra, chúng còn có khả năng nhảy và lê người trên cạn.

7. Kỳ giông Axolotl
Kỳ lạ những loài cá thích đi bộ trên cạn
Đây là loài kỳ giông axolotl có nguồn gốc Mexico là một trong những loài động vật thủy sinh kỳ dị nhất thế giới.

Chúng vừa sống dưới nước, hô hấp bằng mang nhưng cũng vừa đi lại và thở trên cạn mặc dù nó không phát triển phổi. Mang của chúng mọc từ ngoài cổ trên mỗi bên đầu. Mỗi bên có ba tua, bao phủ bởi các sợi lông làm tăng diện tích bề mặt trao đổi khí.
Minh Hiếu

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

NGÂY NGẤT VỚI MÙA HOA SÀI GÒN THÁNG TƯ

Những sắc hoa bằng lăng, muồng hoàng yến... trải dài khắp con đường, làm dịu đi cái nóng ngột ngạt của đất trời Sài Gòn dịp đầu hạ.
1-JPG-3257-1396277686.jpg
Sài Gòn bước sang tháng 4 bắt đầu đón những cái nắng gay gắt, oi ả. Tiết trời cuối xuân cũng là lúc những con đường ở trung tâm Sài Gòn bắt đầu nhen nhóm những bụi hoa giấy, hoa bằng lăng nhuộm thẫm một góc phố. Những giàn hoa giấy rực rỡ, tươi mới là hình ảnh không khó để tìm gặp ở Sài Gòn trong khoảng thời gian này.  

2-JPG-2167-1396277686.jpg

3-5832-1396277686.jpg
Từng cánh mỏng manh nằm kề nhau nhau tạo nên chùm hoa duyên dáng tô điểm cho góc nhỏ ban công, cổng rào... 

4-JPG-1663-1396277686.jpg
Hoa giấy mộc mạc và thanh tao, và cũng là một trong những loài hoa dễ bắt gặp nhất ở trung tâm Sài Gòn. Lang thang trong những con hẻm vắng của Sài Gòn giữa trời trưa nắng, bắt gặp những khóm hoa giấy thanh thoát, chợt thấy lòng mát dịu hẳn...

5-JPG-4539-1396277686.jpg
Cuối xuân cũng là thời điểm nở rộ của hoa muồng hoàng yến, còn gọi là bọ cạp vàng. Những chùm hoa vàng rung rinh trước gió dễ khiến người đi đường ngẩn ngơ. 

6-JPG-7096-1396277687.jpg
Những con đường như Điện Biên Phủ (quận 10), Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) rợp bóng muồng hoàng yến. Loài hoa có màu vàng nhẹ, thanh, khi nở kết thành từng chùm xum xuê và đung đưa trong gió.

7-JPG-2837-1396277687.jpg
Muồng hoàng yến nghiễm nhiên được xem là loài hoa thống trị trên các tuyến đường trung tâm Sài thành. Hoa nở gần như suốt năm, nhưng chỉ đẹp nhất khi được tắm mình trong cái nắng hanh hao của tiết trời tháng 3, tháng 4. 

8-JPG-9540-1396277687.jpg
Những chùm hoa rơi xuống sau cơn gió nhẹ, phủ vàng một góc đường.

9-JPG-6787-1396277687.jpg
Sử quân tử cũng là loài hoa dễ bắt gặp trên đường phố Sài Gòn, đặc biệt là ở những con hẻm. Đây là loại cây leo thân gỗ với những cánh hoa nhỏ xinh, li ti nở quanh năm. 

10-JPG-9396-1396277687.jpg
Theo thói quen, sử quận tử được trồng nhiều ở cổng nhà. Hoa được dân gian gọi bằng những cái tên mộc mạc như dây giun, trang dây... Những cánh hoa đỏ thắm hay phơn phớt trắng không chỉ xinh xắn mà còn có hương thơm dễ chịu. 

11-JPG-6314-1396277687.jpg

12-JPG-3101-1396277688.jpg
Màu hồng phớt của sử quân tử tạo cảm giác dễ chịu, dịu mắt trong cái nắng chói chang của những buổi trưa Sài Gòn oi ả.
Đồng Diệp Huyền

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

ĐOẢN KHÚC THÁNG TƯ

Tác giả: Trần Công Sản 

Tháng Tư nào mẹ cũng nhắc tên anh
Nó đi mãi sao không về cưới vợ
Tuổi tám mươi mẹ lúc quên lúc nhớ
Đôi mắt có mờ vẫn nhìn rõ hình con 
Cau trong vườn mẹ bảo vẫn còn non
Giàn trầu vàng mẹ không cho người hái
Mẹ cứ thì thào thằng bé còn thơ dại
Biền biệt tháng ngày không một lá thư thăm 
Đúng cái ngày nóng bỏng đó-bảy nhăm
Con của mẹ tiến đánh vào Xuân Lộc
Thủ pháo rung lên đồn thù đổ sập
Viên đạn lạc loài - anh thành ánh sao băng.

THÁNG TƯ-2014





Tháng tư về
Nhạc: Dương Thụ
Hát: Anh Thơ

 

Hoa loa kèn mang tháng tư vào Hà Nội

Những ngày này, thủ đô đang được tô điểm bởi màu trắng tinh khiết của những gánh hoa loa kèn. Chỉ nở duy nhất một tháng trong năm, loài hoa còn có tên gọi huệ tây mang đến mùi hương dịu nhẹ khắp phố phường Hà Nội.
1
Từ sáng sớm, loài loa được coi là đặc trưng của tháng 4 Hà Nội đã chất đầy trên những gánh hàng hoa mang theo mùa vào phố.
2
Không cầu kì và rực rỡ, hoa loa kèn mang vẻ đẹp nhẹ nhàng nhưng say đắm lòng người.
3
Loa kèn nở - cũng là lúc Hà Nội bừng tỉnh trong cái nắng đầu hạ.
4
Những giọt sương sớm vẫn đọng trên những nụ hoa e ấp.
5
Điểm thêm màu xanh cho những gánh hàng hoa
1-760531-1368793663_500x0.jpg
Làm rực sáng cả phố phường bằng vẻ đẹp tinh khôi.


Tháng Tư về, có một loài hoa cho riêng em! 2 



 


 
 
 

TIẾNG VIỆT

Tác giả: Lưu Quang Vũ

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

"Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt..."
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu ?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya ?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình...





Bài hát: Tiếng Việt
Nhạc: Nguyễn Lê Tâm

Phỏng thơ: Lưu Quang Vũ


Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014

EM GÁI MỘT NHÀ VĂN


 Tác giả: Nguyễn Quốc Văn
Nhà có hai anh em. 
    Lần ba uống rượu say, chơi trong đám bài, cãi lộn, bị người ta đấm một quả vào mặt, ngã vật vào tường, ai cũng tưởng con bạc ngủ. Đám bạc tan nghe người ta kêu, má kêu xích lô đến đón. Bả khóc rú lên khi thấy ba đã lạnh cứng... 
    Lúc ấy hai anh em đang chơi nhảy lò cò. Thấy má khóc hai đứa chạy vô ngó, thấy ba ngủ như mọi lần say rượu, lại ra ngõ chơi... 
    Rồi má đến ở nhà chú xích lô. Má có thêm em Tèo, em Tuột, em Thôi, em Út Lớn, em Út Nhỏ... Trước má còn ghé thăm, sau hai anh em trông mỏi mắt, dắt nhau đến nhà chú xích lô, thấy má khóc lại dắt nhau về với bà nội. 
    Chuyện ấy xảy ra đã lâu lắm, tưởng như không còn ở trên đời, nếu Tết vừa rồi, người em không khóc nấc lên trước bàn thờ bà nội và ba má. 
    Em có một tổ hợp may mặc. Tèo, Tuột, Thôi, Út Lớn, Út nhỏ đứa làm bảo vệ, đứa đứng máy, ăn lương theo sản phẩm, bữa trưa được người chị cho không, khỏi tính vô lương. 
    Người anh là một nhà giáo. Anh mắc lỗi (anh hay bảo thế) đam mê văn chương, đàn bà và rượu... Nên nghèo cũng chẳng phải do số kiếp. 
    Từ khi người em làm nên, thương anh, hay cho tiền xài. Cũng không rõ có phải vì thế hay vì hậm hực bởi nỗi bất công ở đời anh thề nguyền không đụng đến văn chương nữa... Bạn bè bảo anh là nhà văn không có tác phẩm. Đã thế, việc trường lớp anh cũng bỏ bê, khiến bà hiệu trưởng đã ba lần khuyên anh nên tự làm đơn xin thôi việc. Anh cóc cần đơn từ. Ai đuổi cứ đuổi. Đời anh bị đuổi từ lúc nhỏ xíu rồi. 
    Người anh bị đuổi thiệt. 
    Anh trở thành thằng nghèo, không có tiền, không có đàn bà và cũng chẳng có văn chương. Anh vẫn độc thân. Trơ trọi trên đời. 
    Anh mò đến đám bạc. Không phải để chơi. Có tiền đâu mà chơi, mà để xin tiền. 
    Chẳng có ai cho lấy một xu. 
    Cướp thì không dám. Anh bèn thò tay định thó vài ngàn trên chiếu... Một quả đấm còn nặng hơn cả búa tạ thoi vào bụng, ruột gan tưởng nát hết. Đám bạc ù chạy, bỏ lại cả một số tiền. Anh chết vật đè lên chúng... 
    Người em thuê xích lô đến. Chị lẳng lặng bế anh đặt lên xe, lẳng lặng vơ hết số tiền trên chiếu bỏ vô giỏ... Về đến nhà thì anh tỉnh lại, miệng vẫn còn ri rỉ máu. 
    Lúc ấy sắp giao thừa. 
    Và như ta đã biết, trước bàn thờ, chị đã khóc. 
    Tèo, Tuột, Thôi, Út Lớn, Út Nhỏ khóc theo. Rồi họ xúm vào lau rửa, xoa bóp, bón cháo... cho anh. Họ thấy anh hao hao giống mình. 
    Ít lâu sau, anh khoẻ lại. Nằng nặc đòi em xếp chân bảo vệ. Người em chiều ý. Với một điều kiện. 
    Điều kiện ấy là anh làm bảo vệ không lĩnh lương, mọi sinh hoạt em lo cho. Nửa thời gian còn lại, mỗi ngày phải viết một trang sách, kể về chính cuộc đời của mấy anh em. Khi nào cuốn sách viết xong, anh sẽ được lãnh một số tiền đủ mua một căn nhà nhỏ để tự lập. 
    Trời ơi, viết hết 365 trang thì người ta thành nhà văn hẳn hoi! Mà mong ước của người em chỉ là anh thành người tốt... 
    Người anh nhận lời và bắt tay vào việc. 



    Những trang đầu viết xong, anh đưa cho em đọc. Em khóc và đặt những trang ấy lên bàn thờ. 
    Anh xúc động, đêm ấy viết 20 trang. 
    Mới có nửa năm, cuốn sách đã viết xong. 
    Người em đã bỏ tiền ra in nó. Không biết có đúng không, chị khoe với anh trai mình cuốn sách lời hai mươi triệu. 
    Chị đưa cả số tiền ấy cho anh. Và giục anh đi tìm một căn nhà, đúng như chị đã hứa. 
    Người anh đã khất lần... Anh còn muốn viết nữa, viết nữa.... và anh đã trở thành một nhà văn. Bây giờ chỉ cần nói bút danh này, bút danh kia của anh là đã có nhiều người nhận ra anh. 
    Và cũng chỉ đến bây giờ, do anh đã quá nổi tiếng, nên tôi mới tiết lộ rằng, cuốn sách đầu tiên in ra của anh, hiện nay đang nằm trên gác nhà tôi, đủ cả 5000 bản. Người em là bạn thân của tôi. Chị rất tin cái gác nhà tôi biết giữ mồm giữ miệng, chí ít là đến lúc anh đã thành danh.

BÀI THƠ MỘT CHỮ

Tác Giả: Nguyễn Quốc Văn
Thuở tôi còn nhỏ, nhà tôi nghèo đến mức cứ trông thấy cơm là tôi thèm có thể khóc lên được vì thương thân, tủi phận... 
    Vào ngày họ làm đám giỗ cụ tằng tổ, tuy chỉ bé như cái kẹo, nhưng do được cụ trưởng họ bổ theo lệ một suất đinh, tôi cũng được gọi đến để trình diện trước bàn thờ tiền nhân. 
    Đến lượt, tôi phủ phục xuống trước ban thờ lớn đang nghi ngút hương trầm. Lúc ngẩng đầu lên, tôi thấy một mâm xôi gấc vàng óng ánh những mỡ gà; bên trên là một cái thủ lợn lớn. Vái xong, tôi đứng dậy, lầm rầm khấn... 
    Mâm xôi níu chân tôi lại. Thừa lúc cụ trưởng họ quay ra ngoài gọi một tay đinh khác vào trình tổ, tôi thò tay véo một nắm xôi nhỏ, giấu lẹm vào túi áo nâu. Lẻn ra ngoài ngõ, tôi ngồi tựa lưng vào một đụn rạ, lấy xôi ăn trộm được ra ăn. 
    Chính ngọ, mâm lễ được hạ xuống. Cụ đồ Bỉnh, trưởng họ nhìn chăm chắm vào chỗ xôi bị khuyết, giọng lạc đi: 
    - Các cụ thương con cháu nghèo nên chỉ nếm tí chút hương hoa... 
    Thấy tôi tái mặt đi, cụ trưởng họ hỏi: 
    - Có đúng như vậy không, cháu? 
    Tôi lí nhí: 
    - Không đúng! Cháu thèm quá nên đã véo một miếng... 
    - Trời ơi ! Bố tôi đứng bên cạnh kêu lên. 
    Rồi ông nắm lấy tay tôi, lôi xềnh xệch về nhà. 
    Tôi ăn đến cái roi mây thứ mười thì cụ trưởng họ tới. Cụ nắm lấy cái roi trong tay bố tôi, can: 
    - Cháu nó trót dại. Nhưng nó đã không lừa ai. Con nên tha trước, rồi dạy dỗ sau... 
    Bố tôi buông roi, chắp hai tay, lạy: 
    - Con xin lĩnh lời thầy. Xin thầy xá tội bố chưa dạy bảo con đến nhẽ... 
    - Thôi được - Cụ trưởng họ nói - Ra ngoài rằm, con cho nó đến nhà ta học lấy ít chữ nghĩa thánh hiền... 
    

    Lớp học toàn trẻ con trong xóm. Dĩ nhiên cụ đồ chỉ dạy chữ nho. "Nhân chi sơ, tính bản thiện", sáu chữ này thầy dạy viết và giải nghĩa mất vị chi là chín buổi. Rồi "Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", "Trung, hiếu, tiết, nghĩa"...Về sau, thầy bình cả thơ Đường luật. Hầu hết là thơ tứ tuyệt, do thầy trước tác... 
    Cụ đồ về với tổ tiên vào đúng ngày xã tôi khánh thành trường cấp một xây ở cạnh một ngôi chùa cổ. Năm ấy, tôi đến trường học chữ quốc ngữ. Càng lên các lớp trên, vốn chữ nho thầy đồ Bỉnh truyền cho chúng tôi cứ ngày một rơi rụng dần. Riêng tôi, học thầy hơn một ngàn chữ, lúc ấy không nhớ nổi lấy vài trăm...Bố tôi hay phàn nàn rằng, trước lúc mất, thầy dặn đã viết riêng cho tôi một bài thơ, nhưng không rõ cụ ghi vào tờ giấy nào. Mà có tìm thấy nó, không biết tôi có còn đủ chữ để đọc và hiểu rõ nghĩa không ! 
    Mấy chục năm đã trôi qua, lòng tôi vẫn canh cánh bài thơ cuối cùng cuả thầy. Tiếc là cả dòng họ lục tìm mọi bút tích cuả cụ đồ, vẫn tịnh không thấy. 
    Hè vừa qua, tôi vượt gần hai ngàn cây số về thăm quê. Rồi bố tôi và tôi - một tóc đã trắng như mây, một mái đầu cũng đã điểm nhiều sợi bạc - lại dắt nhau đến nhà thờ họ. Bố tôi bảo bài trí trên bàn thờ họ thầy tôi đã xếp đặt lại ngay sau ngày tôi véo nắm xôi kia, đến hôm nay vẫn chưa hề thay đổi. Trước bài vị tổ tiên, vẫn hai chiếc độc bình lớn, một cắm thanh gươm, một cắm cây bút lông theo thế nghiêng vào nhau... 
    Tôi mở to mắt, ngạc nhiên, kêu lên thảng thốt: 
    - Bố ơi ! Bài thơ thầy để lại kia kia kìa ! Chỉ độc có một chữ... 


 
    Bố tôi bảo tôi đọc bài thơ. Nghe xong, ông ngồi sụp xuống, ôm lấy mặt. Một lát sau, ông nắm lấy tay tôi, khẽ khàng nói: 
    - Bố biết con học cao, đi nhiều, biết lắm. Song bố cũng cứ hỏi thật: con đã thấu chữ "nhân" thầy để lại chưa? 
    Nghe bố hỏi, mặt tôi đỏ rần lên vì xấu hổ...