Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

BỒ ĐỀ

Bồ đề: Loài thực vật có danh pháp khoa học là Ficus religiosa thuộc bộ Rosales, là loài cây gắn liền với lịch sử phát triển của Phật giáo.
Cây đề, nhiều người gọi là cây Bồ-đề (Ficus religiosa), là một loài cây thuộc chi đa đề (Ficus) có nguồn gốc ở Ấn Độ, tây nam Trung Quốc và Đông Dương về phía đông tới Việt Nam. Nó là một loài cây rụng lá về mùa khô hoặc thường xanh bán mùa, cao tới 30 m và đường kính thân tới 3 m.
 của chúng có hình tim với phần chóp kéo dài đặc biệt; các lá dài 10–17 cm và rộng 8–12 cm, với cuống lá dài 6–10 cm. Quả của cây bồ đề là loại quả nhỏ giống quả vả đường kính 1-1,5 cm có màu xanh lục điểm tía.
Ficus religiosa Bo.jpg
Loài cây này được cho là thiêng liêng bởi những người theo Ấn Độ giáoKì-na giáo và Phật giáo. Tương truyền thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm ngồi thiền định dưới một gốc cây như vậy và đạt giác ngộ, trở thành một vị Phật. Qua đó mà cây này có tên bồ đề, vì Bồ-đề có nghĩa là Giác ngộ.
Hiện tại người ta có thể chiêm ngưỡng một cây Bồ-đề rất lớn tại chùa Đại Bồ-đề (Mahābodhi) tại Bồ-đề đạo trường (Bodhgayā), khoảng 96 km (60 dặm) từ Patna thuộc bang Bihar) của Ấn Độ. Đây là con của cây Bồ-đề mà ngày xưa Phật Thích-ca Mâu-ni đã ngồi thiền định 49 ngày sau khi thành tựu Vô thượng chính đẳng chính giác. Cây này là điểm dừng chân của những người hành hương, là tụ điểm quan trọng nhất trong bốn khu vực thiêng liêng đối với những người theo đạo Phật.
Cây Bồ-đề thời Phật thành Đạo đã bị vua Bengal là Śaṣaṅka phá hủy hồi thế kỉ thứ 7. Cây con được trồng kế nó cũng bị bão thổi trốc gốc năm 1876. Cây con ngày nay được lấy từ một nhánh của cây Bồ-đề gốc được vua A-dục tặng vua Tích Lan vào khoảng 288 TCN. Nó mang tên Śrī Mahā ("điềm lành và to lớn"). Ngày nay, tại cố đô Anurādhapura của Tích Lan (Sri Lanka), cây Bồ-đề đó vẫn còn xanh tốt và thời điểm trồng này làm cho nó trở thành cây già nhất trong số các thực vật có hoa có thể kiểm chứng được tuổi.
Hậu duệ trực tiếp do sinh sản vô tính của cây Bồ-đề tại Bồ-đề đạo trường
(bodhgayābuddhagayā), được trồng tại vườn bách thảo Foster ở Honolulu,Hawaii

Lá và quả của cây bồ đề bên bờ biển Long Hải, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, Việt Nam.
Đời sống của đức Phật là một du tăng khất sĩ, sống không nhà cửa, không gia đình thì phải lấy gốc cây làm giường nằm, làm chỗ ngồi thiền, còn cội cây thì làm nhà ở, đậy nắng che mưa
Hiện giờ mọi người ai cũng gọi cây đó là cây bồ đề, nhưng trước khi đức Phật chưa thành đạo thì cây đó được gọi là cây đa, cây đa ở Ấn Độ lá có đuôi dài hơn cây đa của chúng ta, Từ khi đức Phật ngồi dưới cây đa đó tu hành thành chánh giác, vì thế nó mới có tên là cây bồ đề.

Cây Bồ đề độc nhất vô nhị ở Việt Nam
Đó là cây Bồ đề hiện đang được trồng tại chùa Trấn Quốc do đích thân Tổng thống Ấn Độ Prasat trao tặng tận tay Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 21/3/1959.

Buổi lễ đã diễn ra hết sức long trọng tại chùa Quán Sứ trong sự xúc động của hai vị lãnh tụ nhân dân hai nước.
Cây Bồ đề này là cây Bồ đề hậu duệ đời thứ nhất của cây Bồ đề Tổ ở làng Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ, nơi Đức Phật đã giác ngộ hoàn toàn sau 49 ngày thiền định. Hơn 2500 năm qua, cây Bồ đề Tổ vẫn tràn đầy sinh lực và tươi tốt. Mỗi năm có hàng triệu lượt du khách từ khắp năm châu về đây thành kính chiêm bái dưới gốc cây Bồ đề thiêng liêng này.

Cây bồ đề trong sân chùa Trấn Quốc là quà của Tổng thống Ấn Độ Prasad
 trong chuyến thăm Việt Nam năm 1959.

 Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil thăm và chụp ảnh dưới gốc cây Bồ Đề
Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil thăm và chụp ảnh dưới gốc cây Bồ Đề
Hiện tại Việt Nam hàng năm đã có hàng ngàn Phật tử tìm về nơi Đức Phật giác ngộ, xin lá cây Bồ đề ban phát tài lộc, phúc đức cho chúng sinh.
Tuy nhiên, do số lá cây sinh ra có hạn nên đa phần lá cây đó không có xuất xứ từ cây Bồ đề Tổ này.
Sau lễ đón nhận món quà thiêng liêng của tổng thống Ấn Độ, cây Bồ đề trên đã được chuyển về chùa Trấn Quốc, một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời và linh thiêng nhất Việt Nam.
Trong các chuyến thăm Việt Nam sau này, nhiều nguyên thủ của Ấn Độ như Tổng thống Pratibha Patil, Phó tổng thống Mohammad Hamid Ansari đều đã đến thăm và chụp ảnh dưới gốc cây Bồ đề.
Phó Tổng thống Ấn Độ Mohammad Hamid Ansari thăm chùa Trấn Quốc
Phó Tổng thống Ấn Độ Mohammad Hamid Ansari thăm chùa Trấn Quốc
Gần đây nhất, ngày 17/09/Quý Tỵ (21/10/2013) đoàn đại biểu Ấn Độ tham dự Liên hoan hữu nghị nhân dân Việt Nam - Ấn Độ lần thứ VI năm 2013 do Thượng Nghị sĩ D.P Tripathli - Tổng Thư ký Đảng Quốc Đại Dân tộc – Phó Chủ tịch AIPSO (Tổ chức Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn Độ làm trưởng đoàn cũng đã tới thăm và lễ Phật tại chùa Trấn Quốc, chụp ảnh dưới tán Bồ đề.
Hơn nửa thế kỉ qua (1959 - 2013), nhờ hồng phúc đạo Phật và sự chăm sóc của các vị trụ trì, cây Bồ đề Trấn Quốc ngày một xanh tốt, tỏa bóng mát xuống với muôn dân. Mỗi năm, cây sinh ra hàng vạn chiếc lá.
Để thỏa mãn yêu cầu chúng sinh cả nước, Hòa thượng trụ trì chùa Trấn Quốc Thích Thanh Nhã đã tổ chức cho các phật tử thực hiện ý tưởng ép khô lá cây Bồ đề hậu duệ đời thứ nhất này làm kỉ vật ban tặng cho du khách mỗi khi hành hương về đây.
Nhân Kỉ niệm 100 năm ngày mất của Hòa thượng Kim Cương Tử, (ngày 16/10 âm lịch), Hòa thượng Thích Thanh Nhã sẽ ban tặng 100 chiếc lá đầu tiên cho Phật tử chúng sinh.
Phó Tổng thống Ấn Độ Mohammad Hamid Ansari thăm chùa Trấn Quốc
Mỗi chiếc lá Bồ đề sẽ có chứng chỉ của Chùa Trấn Quốc, được đích thân Hòa thượng trụ trì Thích Thanh Nhã làm lễ xin Đức Phật và đóng dấu nhà chùa với tâm nguyện ban phát tài lộc cho chúng sinh.
Việc làm này còn giúp cho Phật tử được hưởng lộc Phật ngay tại Việt Nam, đỡ phải đường xa tốn kém, lại có được lá từ chính cây Bồ đề hậu duệ thứ nhất của cây Bồ đề Tổ.


Cây bồ đề cổ thụ ở hai bên tam quan của Văn Miếu - Quốc Tử Giám 







Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

CHUYỆN CẦU Ô THƯỚC

 

Tác giả: Đặng Thị Thanh Hương
Những cây cầu Ô Thước
Đã bắc ngang bầu trời
Trong cơn mưa cuối hạ
Ta đợi mãi một người
Ta đợi mòn nỗi nhớ
Ta đợi biệt ngày về
Ta đợi như như Chức Nữ
Héo mòn tuổi xuân đi
Những người đàn ông ấy
Như Ngưu Lang quên lời
Đường trần hoa cỏ lạ
Quên mất lối về trời
Ôi tình yêu - hò hẹn
Chỉ là áng mây trôi
Những chiếc cầu Ô Thước
Đã hoá mây ngang trời....
Và con đường tình sử
Hun hút trông xa vời....

30.07.014

BÌM BỊP KÊU THƯƠNG

Tác giả:  Nguyễn Thị Ánh Huỳnh.
Ai bịp mày chim ơi
mà bìm bịp suốt đời
hay sông Vàm Cỏ bỏ mày
đi lấy vợ
hay Đồng Tháp Mười bỏ mày
đi lấy chồng
bìm bịp
tiếng chim kêu
làm goá cả buổi chiều
Cho chị ngủ nốt đêm Cần Đước
kêu thương chi cho đau lòng nhau
bật máu cây trạng nguyên
đốt cháy tán bàng
cứ bíp bịp hoài
chị không về Sài Gòn đặng
sợ chồng ghen
có ai lại lấy tiếng chim bìm bịp làm chồng?
Thôi chị phải bỏ đi
không dám ngủ trọn một đêm với tiếng kêu
thương
tiếng chim có bùa ngải
Bìm bịp bìm bịp…
tiếng kêu vò xé cả trời
nghe chim
có thể chết người
như không!
 (Bài thơ này lấy trên báo "Điện tử Bà Rịa- Vũng Tàu" in năm 2008)

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

CÓ KHI NÀO


Tác giả: Bùi Minh Quốc (Dương Hương Ly)


Có khi nào trên đường đời tấp nập
Ta vô tình đã đi lướt qua nhau
Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất
Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu...    
1962 



Phần thêm không rõ của ai:


Rồi họ chia tay kiêu hãnh thẩn thờ 
Bóng dáng yêu chỉ về trong mộng 
Rồi họ chết Dưới suối vàng lạnh cóng 
Họ gặp nhau nào có nhận ra nhau

Chia tay đâu phải không gặp nữa 
Mà khói hoàng hôn cay mắt nhau 
Mà chiều như rụng theo chân bước 
Và nắng đường xa bỗng bạc màu

Gió về đêm hoang dại 
Biết tin người trở lại 
Ngày em đi lấy chồng 
Mây buông giải tầng sâu 
Mây buồn giải tầng thẳm 
Tiễn một đời con gái...

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

CHIA TAY MÙA HẠ - MẸO VIẾT CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

 CHIA TAY MÙA HẠ.
Tác giả: Trần Mạnh Hảo.
Mùa hạ đi rồi em ở đây Con ve kêu nát cả thân gầy Sông Hương như mới vừa say khướt Tỉnh lại trôi về phía gió may 
  
Hoa phượng trên đầu bỗng xuống chân Chia tay mùa hạ đã bao lần Em như chim sẻ vừa kêu chiếp Quả chín trong vườn chửa kịp ăn 
Mặt trời vô cớ vọt lên cao Trời biếc hình như cũng thế nào Em không giữ nổi con ve lại Mùa hạ đi rồi níu lại sao? 
Thu chửa kịp về hạ đã qua Mình em đứng đợi cả hai mùa Nếu anh về kịp thay mùa hạ Chắc là phượng lại cháy bừng trưa.
Sài Gòn mùa hè 1979
 






MẸO TIẾNG VIỆT

Tác giả: Trung Nguyên



Một số mẹo khắc phục lỗi chính tả khi viết và phát âm
Có thể nói, chính tả là một vấn đề có tính phổ quát đối với mọi thứ chữ viết ghi âm được dùng hiện nay trên thế giới. Ở mỗi thứ chữ viết ghi âm, bao giờ cũng có vấn đề nên viết thế nào cho đúng chính tả.
Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất. Chính tả tiếng Việt về căn bản là một chính tả thống nhất. Tuy nhiên, do tiếng Việt có nhiều phương ngữ, thổ ngữ nên bên cạnh tính thống nhất là chủ đạo, nó cũng có những nét dị biệt khá rõ ràng trong cách phát âm, cách dùng từ giữa các vùng và tạo ra ấn tượng mạnh mẽ về sự tồn tại trong thực tế ba “giọng” nói khác nhau: “ giọng miền Bắc, giọng miền Trung và giọng miền Nam”, tương ứng với ba vùng phương ngữ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Đặc điểm phát âm đặc trưng cho từng vùng khác với phát âm chuẩn chính là nguyên nhân dẫn đến những cách viết sai chính tả. Chẳng hạn, chính tả phân biệt tr và ch, s và x…nhưng phát âm của người Hà Nội không có sự phân biệt này. Vì vậy, khi viết, họ rất dễ nhầm lẫn các phụ âm này với nhau. Trong khi đó, phát âm của người miền Trung lại không phân biệt thanh hỏi/ thanh ngã nên khi nói cũng như khi viết, họ thường nhầm lẫn các thanh ấy v.v…
Trong thực tế, những lỗi chính tả thường gặp trong tiếng Việt khá đa dạng, phản ánh bức tranh phương ngữ của tiếng Việt trên các miền đất nước. Song, lỗi chính tả mà chúng ta hay mắc phải nhất là lỗi về phụ âm đầu. Để khắc phục lỗi này, chúng ta có nhiều cách. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập tới giải pháp khắc phục lỗi chính tả một cách đơn giản và tương đối hiệu quả, đó là dùng các mẹo chính tả.
Có thể coi, mẹo chính tả là những cách thức giản tiện, dễ nhớ do các nhà ngôn ngữ đặt ra. Mẹo chính tả giúp cho người viết dễ dàng tìm ra cách viết đúng một cách nhanh nhất mà không cần phải tra cứu từ điển.

1.Lẫn lộn L và N
Đây là lỗi khá phổ biến ở ngoại thành Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ nói chung. Sự lẫn lộn về mặt từ vựng đã khiến nhiều trường hợp trong khi nói và viết đã nhầm lẫn giữa L và N. Để khắc phục lỗi này, ta có các mẹo sau:
*Mẹo về âm đệm: L có thể đứng trước âm đệm, còn N thì không.
Theo thống kê, các vần có âm đệm trong tiếng Việt là oa, oă, uâ, oe, uê, uy. Vì vậy, chỉ cần nhớ câu sau “ Ngoa ngoắt Tuấn khoe quê Thúy”để nhận biết vần có âm đệm là có thể áp dụng mẹo này.
Theo mẹo này, ta có thể yên tâm viết: lòa xòa, cái loa,loắt choắt, loăn quăn, luẩn quẩn, lí luận, quần loe, lóe sáng, luyến tiếc, luyện tập, lũy thừa, liên lụy…
Mẹo này có một ngoại lệ: noãn nghĩa là trứng chỉ dùng trong hai từ Hán Việt là noãn cầu và noãn sào.
· Mẹo láy âm : Khi ở vị trí thứ nhất trong một từ láy âm, L có thể láy âm với các âm đầu khác, còn N thì không có khả năng này.
Vậy, nếu gặp một tiếng không rõ viết với L hay N, ta hãy thử tạo một từ láy âm phụ âm đầu. Nếu tiếng đó có thể đứng trước thì nó được viết với L.
Sau đây là một số ví dụ về khả năng láy phụ âm đầu rất rộng rãi của L:
- L láy với B: lắp bắp, lõm bõm, lạch bạch, lấn bấn, lu bù…
- L láy với C (K, Q): la cà, lục cục, lấn cấn, lẩm cẩm, luẩn quẩn, loăng quăng…
- L láy với D: lở dở, lim dim, lai dai…
- L láy với Đ: lốm đốm, lục đục, lờ đờ, lao đao, long đong, lênh đênh…
- L láy với H: lúi húi, loay hoay…
- L láy với M: lơ mơ, liên miên, lễ mễ, lan man, lề mề…
- L láy với X: lao xao,lăng xăng, loăn xoăn, lèo xèo…
- L láy với T: le te,lon ton, lách tách, lung tung, lả tả…
- L láy với R: lai rai, lâm râm, lè rè…
- L láy với V: lởn vởn, lảng vảng, lặt vặt…
- L láy với CH: loắt choắt, loạc choạc, lanh chanh,loạng choạng…
- L láy với NH: lăng nhăng, lam nham, lải nhải, lảm nhảm…
- L láy với KH:lom khom, lọm khọm, lụ khụ…
- L láy với NG: lơ ngơ, loằng ngoằng, lêu nghêu…
Trong trường hợp tiếng đang xét ở vị trí thứ hai của từ láy âm, ta lại có một quy tắc khác: L láy âm với các âm khác ngoài GI và âm đầu zêzo mà không láy âm với các âm khác.
Chẳng hạn ta có:
- L láy âm với B: bông lông, bảng lảng, bằng lăng…
- L láy với CH: chói lọi, cheo leo,chìm lỉm…
- L láy với KH: khóc lóc, khéo léo, khét lẹt…
Trong khi đó, N chỉ láy với GI và âm đầu zêzo: giãy nảy, gian nan,áy náy, ảo não…
· Mẹo đồng nghĩa lài- nhài: Khi gặp một tiếng chưa rõ viết với L hay N mà thấy đồng nghĩa với một tiếng khác viết với NH thì có thể kết luận tiếng chưa rõ ấy sẽ được viết với L.
Có thể minh họa mẹo này qua các ví dụ sau: Lài- nhài, lầm- nhầm, lem- nhem, lời- nhời, loáng – nhoáng, lố lăng- nhố nhăng…

2. Lẫn lộn TR với CH
* Mẹo thanh điệu trong từ Hán- Việt: Những từ Hán- Việt mang dấu nặng và dấu huyền đều chỉ đi với TR mà không đi với CH.
- TR đi với dấu nặng: Trịnh trọng, trị giá, trụy lạc, trục lợi, trụ sở, vũ trụ, thổ trạch,trạm xá, hỗ trợ, triệu phú, trận mạc…
- TR đi với dấu huyền: Truyền thống, từ trường, trần thế , trù bị, trùng hợp, phong trào, lập trường ,trầm tích, trừng trị…
* Mẹo láy âm: CH láy âm với các phụ âm khác ở vị trí đứng trước hoặc đứng sau, trái lại TR không láy âm đầu với các phụ âm khác , trừ bốn ngoại lệ đều là láy với L: Trọc lóc, trụi lũi, trót lọt, trẹt lét…
- CH đứng ở vị trí thứ nhất: Chơi bời, chèo bẻo, cheo leo, chìm lỉm, chi li, chói lọi, chểnh mảng, chào mào, chộn rộn, chình rình,choáng váng, chờn vờn, chon von, chơi vơi, chót vót, chênh vênh, chạng vạng…
- CH đứng ở vị trí thứ hai: Loắt choắt, lau chau, lanh chanh, lã chã, loạng choạng, lởm chởm,loai choai…
* Mẹo đồng nghĩa tranh – giành: Khi gặp một tiếng chưa rõ viết với CH hay TR mà lại đồng nghĩa với một từ viết với GI thì từ đó phải được viết với TR.
Ví dụ: Tranh- giành, nhà tranh- nhà gianh, trầu – giầu, trai- giai, trăng- giăng, tráo trở- giáo giở,, trối trăng- giối giăng, trời- giời, tro- gio, trả- giả…
· Mẹo trường từ vựng:
- Mẹo cha- chú: Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết với CH chứ không viết với TR: Cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chút , chít…
- Mẹo chum- chạn: Đồ dung trong gia đình được viết với CH chứ không viết với TR: Cái chạn, cái chum, cái chai, cái chiếu, cái chăn, cái chõng, cái chày giã gạo, cái chổi, cái chuồng gà, cái chĩnh, cái chậu…Có một ngoại lệ: Cái tráp.
· Mẹo kết hợp âm đệm: TR không đi với các vần oa, oă, oe. Chỉ có CH là đi với các vần này.

3. Lẫn lộn S và X
* Mẹo kết hợp âm đệm: S không đi với các vần oa, oă,oe, uê, chỉ có X là đi với các vần này.
Ví dụ: Xoa tay, xoay xở, cây xoan, xoắn lại, tóc xoăn, xòa tay, xoen xoét, xuề xòa, xuyên qua…Có các trường hợp ngoại lệ như soát trong rà soát, kiểm soát…, soạn trong soạn bài và những trường hợp điệp âm đầu trong từ láy: suýt soát, sột soạt, sờ soạng…
· Mẹo láy âm: Chỉ có X mới láy âm với các âm đầu khác, còn S không có khả năng này.
Ví dụ như: Bờm xơm, bờm xờm, lao xao, lòa xòa, liêu xiêu, loăn xoăn, liểng xiểng, lộn xộn, lì xì, xoi mói, xích mích,…
· Mẹo từ vựng:
- Tên các thức ăn và đồ dùng liên quan đến việc nấu nướng, ăn uống thường viết với X. Ví dụ như: Xôi, xa lat, lạp xường, xúc xích, cái xanh, cái xoong, cái xiên nướng thịt…
- Hầu hết các danh từ còn lại viết với S. Chặng hạn như: Ông sư, bà sãi, cây sen, cây sim, cây sồi, cây sung, cái sọt, sợi dây, sao, sương giá, sông, suối, sấm, sét…Có các trường hợp ngoại lệ : Chiếc xe, cái xuồng, cây xoan, cây xoài, trạm xá, xương, cái túi sách hay cái xắc, cái xẻng, mùa xuân…

4. Lẫn lộn R với D và GI
Người miền Bắc không phân biệt R với D và GI trong phát âm nên thường lẫn lộn chúng trong chữ viết. Có thể dùng một số mẹo đơn giản sau để khắc phụ lỗi này.
· Mẹo về âm đệm: R và GI không kết hợp với âm đệm, chỉ có D mới kết hợp với các vần này. Chẳng hạn như: Dọa nạt, hậu duệ, kiểm duyệt, duy trì, duy nhất…(Trường hợp ngoại lệ roa trong cu- roa).
· Mẹo láy âm “Co ro- bịn rịn”: R láy âm với B và C ( K) là những hình thức mà D không có. Ví dụ như:Bịn rịn, bủn rủn, bứt rứt, bối rối, co ro, cập rập…
· Mẹo run rẩy- rừng rưc: Những từ láy điệp âm đầu R mô phỏng tiếng động tượng thanh, chỉ sự rung động ở nhiều cung bậc khác nhau, chỉ những sắc thái ánh sáng động, tươi, chói đều viết với R. Ví dụ như: Rì rào, rả rích, răng rắc, rầm rập, róc rách, rúc rích, ra rả, run rẩy, rung rinh, rón rén, rập rình, rạo rực, rần rật, rực rỡ, rừng rực, roi rói, rạng rỡ…
Trên đây là các mẹo để khắc phục lỗi chính tả. Tuy nhiên, đó không phải là cách duy nhất. Những mẹo nêu trên chỉ là một trong rất nhiều cách để giúp chúng ta viết đúng chính tả. Song, có thể nói, các mẹo chính tả đó có tác dụng như những đơn thuốc mà các nhà ngôn ngữ học đã pha chế cho chúng ta (bằng cách hệ thống hóa các hiểu biết thực tế và các tri thức ngữ học thành những công thức giản tiện), giúp cho việc chữa lỗi chính tả hàng ngày.

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

13 CỰC HÌNH TÀN KHỐC LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Từ thời Trung Cổ, con người đã có những hình thức tra tấn vô cùng dã man, tàn khốc, nhằm trừng phạt tội phạm, thẩm vấn hoặc răn đe.Ngũ mã phanh thây, cưa người, ném vào vạc dầu, lột da là những cực hình được xem là tàn khốc nhất lịch sử nhân loại cho đến tận ngày hôm nay.

1.Cưa người làm đôi
Cưa người là hình thức hành quyết dã man được sử dụng từ thời La Mã cổ đại. Phạm nhân sẽ bị treo ngược người lại. Thanh cưa sẽ từ trên xuống, dọc theo cơ thể và bắt đầu từ giữa hai nhân của phạm nhân. Điều kinh hoàng nhất là người bị hành quyết sẽ không chết ngay, nạn nhân vẫn có ý thức và cảm nhận được đau đớn đến tột cùng cho đến khi thanh cưa đi đến tận đầu và cắt đôi cơ thể ra làm hai mảnh.



2. Chiếc bàn tử thần
Đây là một dụng cụ tra tấn hình chiếc bàn dài làm bằng gỗ và sắt. Nó có con lăn 2 đầu, ở giữa là một đòn bẩy khiến 2 con lăn di chuyển. Nạn nhân sẽ bị đặt vào chiếc bàn, tay chân bị trói chặt vào 2 con lăn. Tiếp đó, họ sẽ bị người tra tấn dùng đòn bẩy kéo căng tay và chân ra 2 chiều ngược nhau. Nạn nhân sẽ vô cùng đau đớn, đầu tiên da thịt bị rách lìa, các cơ bắp sẽ đứt đoạn, cuối cùng là xương gãy thành từng đoạn.

3. Lăng trì
Lăng trì là hình thức được dùng phổ biến tại Trung Quốc. Người ta dùng một con dao cắt đi từng phần trên cơ thể của phạm nhân khiến họ chết dần chết mòn. Lăng trì được dùng cho những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, chẳng hạn như tội phản quốc, giết người hàng loạt, con giết cha mẹ…

4. Tứ mã phanh thây, Ngũ mã phanh thây
Tứ mã phanh thây là hình phạt mà tứ chi của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây nối vào bốn con ngựa. Khi hành hình, các nài ngựa sẽ thúc ngựa phi ra bốn hướng, từ đó bốn sợi dây kéo tứ chi phạm nhân đến khi thân thể của phạm nhân bị xé thành nhiều mảnh. Phạm nhân sau đó bị bỏ mặc cho máu chảy đến chết. Hình phạt này còn có một biến thể khác là ngũ mã phanh thây với sợi dây thứ năm cột vào cổ phạm nhân.

5. Phanh thây bằng dao búa
Phanh thây được sử dụng chủ yếu ở Anh. Phạm nhân bị dây thừng cột vào đầu rồi bị những con ngựa kéo đến nơi hành hình. Lúc này họ đã suy yếu. Sau đó, họ bị chặt làm nhiều mảnh bằng dao hoặc búa và bị mang đi bêu riếu khắp nơi. Hình thức xử phạt này chỉ dành cho đàn ông.

6. Lột da
Lột da là hình thức tàn bạo nhất và thiếu văn minh nhất thời trung cổ. Người ta lột da của những tù nhân vẫn còn sống. Sau khi da đã bị lột hết, người bị kết án vẫn bị quăng quật để chảy máu cho đến chết. Những người thực thi hình phạt này còn dùng muối để tăng thêm đau đớn cho phạm nhân. Biện pháp trừng trị này dành cho tội phạm, tù binh và “phù thủy”, được sử dụng cách đây 1 ngàn năm ở Trung Đông và Châu Phi.

7. Moi nội tạng
Moi nội tạng, nhiều nhất là ruột là biện pháp tra tấn dành cho những tên trộm hoặc những ai bị buộc tội ngoại tình. Nạn nhân bị rạch bụng và một số cơ quan bên trong cơ thể bị lôi ra ngoài, chủ yếu là bộ phận nằm ở vùng bụng.

8. Đóng đinh vào đầu
Nạn nhân của hình phạt này bị trói tay chân, cỏ bị gông chặt. Khi hành hình, đầu nạn nhân bị kẹp chặt sau đó đầu sẽ bị người ta dùng búa đóng vào vào đinh sắt xuống đầu. Nạn nhân sẽ vô cùng đau đớn khi đón nhận cái chết.
9. Thả trôi sông
Những người Ba Tư cổ đại cột nạn nhân đã bị lột quần áo, buộc vào một chiếc bè và bị ép họ uống sữa hoặc ăn mật ong. Chiếc bè sau đó bị thả trôi sông. Nạn nhân sẽ bị tiêu chảy do ăn nhiều đồ ngọt, bị côn trùng cắn và kiệt sức đến chết.
10. Ném vào vạc dầu
Ném vào vạc dầu là hình thức tra tấn hết sức dã man. Nạn nhân sẽ bị ném thẳng vào vạc dầu đã được đun sôi . Hình thức này sẽ khiến nạn nhân đau đớn và chết ngay lập tức.
11. Tử hình bằng voi
Hình thức tử hình bằng voi là cho voi nghiền nát, giày xéo. Cách tử hình này được sử dụng tại phía Nam và Đông Nam Á trong hơn 4.000 năm. Có nguồn tin cho biết nó từng được sử dụng bởi người La Mã và Triều Nguyễn tại Việt Nam.
12. Thiêu sống
Thiêu sống chủ yếu được thực hiện tại Rome, Akragas ở Sicily, Ý, Anh và một số vùng Bắc Mỹ. Cơ thể phạm nhân sẽ bị đốt theo trình tự từ bắp chân, đùi, bàn tay, thân, cánh tay, ngực, ngực trên, mặt và sau đó là chết. Người ta còn đổ cả nhựa thông vào để ngọn lửa cháy nhanh hơn.
13. Khủng bố tinh thần bằng chuột
Với kiểu tra tấn bằng động vật này, nạn nhân sẽ bị đặt một chiếc chụp kim loại lên người và trong đó chứa những con chuột. Tiếp đó, người tra tấn sẽ nung nóng chiếc chụp và khiến lũ chuột sợ hãi tìm lối thoái. Theo bản năng, bầy chuột tìm lối thoát bằng cách ngặm nhấm cơ thể của nạn nhân. Cách tra tấn này vừa gây đau đớn về thể xác và khủng bố tinh thần nạn nhân.

CÂY HOA TỬ ĐẰNG 144 TUỔI Ở NHẬT

Cây hoa tử đằng khổng lồ và lâu năm này đã làm say mê hàng ngàn du khách gần xa đổ về công viên Hoa ở Nhật chỉ để ngắm nhìn nó.
Nằm ở khuôn viên của công viên hoa Ashikaga, cây hoa tử đằng đẹp lung linh ở đây là cây hoa tử đằng lớn nhất và lâu đời nhất ở Nhật. Tuy chưa phải là lớn nhất thế giới nhưng cây hoa tử đằng ở công viên Ashikaga đã chiếm một diện tích rất lớn là 1990 mét vuông diện tích và được trồng vào năm 1870 (tức là bây giờ nó đã 144 tuổi). Do số lượng dây hoa khổng lồ nên cây trở nên khá nặng nề và ban quản lý công viên phải làm một dàn đỡ phía trên để tránh việc không may bị gãy đổ.
Hoa tử đằng trong quan niệm của Nhật được xem là biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu bất diệt vì tuy hoa nhìn có vẻ mềm mại, uyển chuyển, nhưng rễ của nó lại rất mạnh mẽ, vững chắc mang ý nghĩa là tình yêu phải kiên trì và vượt qua khó khăn, thử thách. Nếu có điều kiện, bạn hãy tới công viên Ashikaga và ngắm cây hoa tử đằng đẹp như cổ tích này cùng người yêu mình, đảm bảo là vô cùng lãng mạn.
Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích 


Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích


Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích 


Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích


Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích


 Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích

Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích

Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích

Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích

Ngỡ ngàng với cây hoa tử đằng 144 tuổi đẹp như cổ tích