Teo tóp lớp trường vắng học sinh Thôi thì sang Lao động-thương binh... Nợ công, nợ nghĩa...bao giờ lặng Ngày giáo đã quen tới một mình. 17/11/2016
Năm nay cố đợi nét vui tươi Quốc hội vừa nghe Nh. trả lời Mắt trẻ vùng cao thương biết mấy Người thì vẫn vậy khẽ xa xôi! 19/11/2016
Cổng trường cờ gió vắng tung bay Mơ ước dập dìu trò mắt say Bóng đá chiều nay AFF Niềm vui nhen lại đủ trong ngày. Hanh còn xa lắc trời chưa rét Còn thấy ngày xưa cũng ở đây Nắng trải tràn đầy, mây trắng đẹp Thôi thì cứ vậy, cứ hôm nay! 20/11/2016
Tôi
có người em sông Hương, núi Ngự Của lũy
tre Thôn Vỹ hiền từ Của kinh
thành cổ xưa thật xưa Buổi trưa
em che nón lá Cá Sông
Hương liếc nhìn ngẩn ngơ Lũ chim
quyên ngất ngây từ xa
Tôi sống
độc thân trong căn phố nghèo Bởi trót
thương nên nhớ thật nhiều Bởi em là
hạnh phúc tình yêu Ở bên ni
qua bên nớ Cách con
sông chuyến đò chẳng xa Nhỏ sang
thăm có tôi đợi chờ
Huế ơi có
biết bây chừ Tiếng ca
nào vương bên mạn thuyền Có ai chờ
ai qua Tràng Tiền Không
biết bây chừ nữ sinh mang nón bài thơ Để trai
xứ Huế mộng mơ Huế ơi ta
nhớ muôn đời Bóng
trăng hồ sen trong Hoàng Thành Tiếng
chuông từng đêm Thiên Mụ buồn Ta nhớ
muôn đời người con gái Huế quá xinh Tóc mây
ngang lưng trữ tình
Non nước
Thần Kinh quê hương đất lạnh Là trái
tim sông núi của mình Cả linh
hồn của dân hùng anh Bởi đâu
gây nên nông nỗi Cánh chim
bay giữa trời lẻ loi Nhỏ tôi
yêu khóc bao giờ nguôi
Tôi đã
lạc em trong cơn biển động Để tháng
năm hai đứa lạnh lùng Để đêm
ngày kẻ nhớ người mong Khổ đau
cao như mây tím Cố năm
xưa đã buồn buồn thêm Nhỏ yêu
ơi biết đâu mà tìm
Cây thiếu
đất cây sống sống với ai...! Chuyện
trăm năm ân tình cây và đất Cây bám
rễ sâu, đất ôm chặt tận đáy lòng...!
Những con
đường trải dài bóng mát Những
mảnh vườn trái ngọt cây xanh Ôi đẹp
làm sao tình cây và đất Đem đến
môi sinh sự sống cho đời
Trời xe
duyên nên khiến anh gặp em Cho lứa
đôi kết thành mộng ước của ngày xanh Rồi mai
đây anh là đất em là cây Vinh phúc
cho ai biết rằng từ đó mùa xuân vĩnh hằng.
Ở hai đầu nỗi nhớ Nhạc sĩ: Phan Huỳnh Điểu Thơ: Trần Hoài Thu
Lời bài hát:
Có
một không gian nào đo Chiều dài
nỗi nhớ Có khoảng
mênh mông nào Sâu thẳm
hơn tình thương Ở đầu này
nỗi nhớ anh mơ về bên em Ngôi sao
như xuống thấp cho ta gần nhau thêm
(Đêm nghe
tiếng mưa rơi Đếm mấy
triệu hạt rồi mà chưa vơi nỗi nhớ Ở hai đầu
nỗi nhớ Yêu và
thương sâu hơn Ở hai đầu
nỗi nhớ Nghĩa
tình đằm thắm hơn) 2 lần
Có một
không gian nào đo chiều dài nỗi nhớ Có khoảng
mênh mông nào sâu thẳm hơn tình thương Ở đầu này
nỗi nhớ anh mơ về bên em Ngôi sao
như xuống thấp cho ta gần nhau thêm
Đêm nghe
tiếng mưa rơi Đếm mấy
triệu hạt rồi mà chưa vơi nỗi nhớ (Ở hai
đầu nỗi nhớ Yêu và
thương sâu hơn Ở hai đầu
nỗi nhớ
Nghĩa tình đằm thắm hơn) 2 lần
...
Nghĩa tình đằm ... thắm hơn ...
Để thành công, cần có 3 yếu tố:
Thiên thời, địa lợi, nhân hoà, trong đó yếu tố “Nhân hoà” là quan trọng
nhất. Nhưng nhân hoà là những nhân nào, hoà với ai, hoà như thế nào mới
là quan trọng. Các nhà tâm lý học đã chỉ ra “thuyết lục nhân”, nghĩa là
để thành công, từ việc nhỏ đến việc lớn đều cần có sáu loại người (nhân)
sau.
1-Một là phải có quý nhân
phù trợ. Quý nhân là người nâng đỡ, tạo điều kiện cho bạn, giới thiệu
bạn với ai đó. Họ là những bề trên của bạn, đối xử tốt với bạn. Tất
nhiên, bạn phải là người tốt mới có quý nhân phù trợ. Xin đừng hiểu quý
nhân phù trợ là trời, là phật hay một thế lực siêu nhiên nào đó. Đó có
thể là sếp của bạn, người thầy của bạn, người giữ cương vị cao hơn bạn
trong cơ quan…
2-Hai là cần có cổ nhân
để chỉ dẫn. Cổ nhân là những người tuy không giúp bạn về tiền bạc hay
nâng đỡ bạn như quý nhân, nhưng cho bạn những hài học quý giá, chỉ dẫn
cho bạn đường đi nước bước. Họ không hẳn phải là người già. Đó có thể là
thầy giáo của bạn, nhà tư vấn, người tiền nhiệm hay đơn giản chỉ là
người bạn đã đi trước bạn một bước.
3-Dù có quý nhân phù trợ, có cổ nhân chỉ bảo, nhưng cái nhân thứ ba mới quan trọng. Đó chính là “bản nhân”,
tức chính bản thân bạn. Sự nỗ lực của chính bạn mới quyết định bạn có
thành công hay không. Chính vì có bản nhân vững vàng, bạn mới nhận ra ai
là quý nhân, ai là hiền nhân để cậy nhờ, hỏi han, xin chỉ giáo. Có
người bản nhân yếu, nên gặp quý nhân mà không biết, ngồi cạnh cổ nhân
chẳng khai thác được gì, ngoài chuyện tào lao.
4-Không ai có thể làm việc gì thành công mà không có hiền nhân.
Hiền nhân là những người cùng chí hướng, sống chết cùng với bạn. Bạn hô
có hiền nhân ủng hộ. Bạn làm, có hiền nhân làm cùng. Làm cùng nhau
nhưng mỗi người theo đuổi một mục đích riêng, giữ miếng, thủ thế với
nhau thì không phải hiền nhân.
5-Đừng quên rằng ở đời không bao giờ hết “tiểu nhân”.
Đó là những kẻ ghen ăn tức ở, ghanh ghét bạn, chọc phá bạn. Đừng ngạc
nhiên hay tức giận, bởi tiểu nhân rất có lợi cho bạn. Nhờ tiểu nhân
“chọc ngoáy” mà ý kiến của bạn, dự định của bạn được phản biện, bạn lại
cẩn trọng hơn trong suy nghĩ, làm ăn. Thế là chính tiểu nhân đã giúp bạn
hoàn thiện bản thân, tránh được tư tưởng chủ quan, lạc quan thái quá.
6-Thứ nhân cuối cùng trong lục nhân chính là “tình nhân”. Đừng
vội nghĩ về nghĩa xấu của hai tiếng tình nhân. Đó chỉ là người có tình
với bạn, nặng lòng về bạn. Với tình nhân, bạn có thể dốc bầu tâm sự, dựa
đầu vào vai họ để khóc mà không sợ người ta chê bạn yếu đuối, bạn hứng
khởi la hét, không bị người đó nói bạn có vấn đề. Tình nhân là dòng nước
mát bạn tắm khi nóng, là lò sưởi khi bạn lạnh, là miếng ngon khi bạn
đói. Ai là tình nhân của bạn, bạn phải tự xác định.
Có lục nhân bạn sẽ thành công nhanh
chóng. Nhờ có lục nhân, nó có thể làm đảo ngược tình thế, ngay cả khi
chưa có được thiên thời, địa lợi. Nào, hãy kiểm điểm xem bạn có mấy nhân
rồi? nếu còn thiếu, phải tự mình tạo dựng.
Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa
Đi...
ngày tháng lụi
tìm không thấy
Giải yếm lòng trai mải phất cờ
Cách nhau ba bước vào vườn ổi
Chị xoạc cành ngang
Em gốc cây
- Xin chị một quả chín!
- Quả chín..
quá tầm tay
- Xin chị một quả ương
- Quả ương
chim khoét thủng
Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng.
Thu về, những làn gió làng quê mang
theo hương ổi chín làm cho lòng nó thấy nôn nao. Đã bao lâu rồi nó không còn
được ngửi cái mùi thân thuộc mà xa lạ ấy?
Từ tấm bé nó đã lẫm chẫm bước đi những bước đầu đời, rồi là chạy nhảy lăn lội
trong vườn cây của ông bà nội dưới tán cây xanh rì. Nhà nghèo, bố mẹ lại không
chăm sóc được nó nên chị em nó vẫn ở với ông bà còn nhiều hơn ở với bố mẹ.
Mỗi gốc cây trong vườn nó đều thuộc lòng nhưng nó vẫn thích nhất là gốc ổi. Nó
thích cây ổi vì thân cây không xù xì thô ráp như thân cây nhãn, cũng không có
những cành dễ gẫy như cây xoài. Thân cây ổi nhẵn nhịu, cành cây tuy bé nhưng
chắc lắm nhé. Đã vậy những quả ổi chín lại thơm ơi là thơm, nó thích cái cảm
giác vừa cắn một ngụm nhỏ thôi đã tràn ngập hương ổi trong miệng. Thịt ổi mềm
mềm, ngọt ngọt, ruột ổi càng thơm hơn, như thể cả hương vị trời thu đọng trong
ấy. Ông bảo ổi thóc chín là ngon nhất, nó nhìn những những bông hoa ổi nở ra,
chậm rãi kết quả, rồi cũng đợi được những quả ổi chín vàng ươm, lúc ấy nó đã
nghĩ đó là niềm hạnh phúc nhất.
Thời thơ ấu của nó chẳng rời khỏi cây ổi.
Là trưa hè nóng nực, chị em nó làm nhà trên cây ổi. Gọi là nhà cho oai chứ mới
bảy, tám tuổi thì biết làm cái gì đâu. Mấy tấm gỗ lén lút lấy từ trong đống gỗ
sau nhà của bà ghép lại thành sàn nhà. Vài ba chiếc bao đã rách miếng to rạch
ra rồi căng làm tường nhà, nóc nhà. Chỉ vài động tác đơn giản thế là có cái nhà
nho nhỏ trên crạc cây cách mặt không cao. Những cơn mưa bất chợt đến, chị em nó
chẳng muốn vào nhà mà chen chúc trong ngôi nhà trên cây nước dột khắp nơi ấy
cùng cười khờ dại.
Là những ngày chúng nó chơi đồ hàng, vặt lá ổi làm “tiền”, hoa ổi là “thức ăn”.
Cứ thế mà nghịch nhưng vui lắm. Để bà nội biết lại bị bà mắng “vặt trụi hoa ổi
chúng bay lấy đâu ra ổi mà ăn?”.
Là những buổi chiều tan học cùng kéo nhau về vườn cây rồi tập kích cây ổi sai
quả trĩu trịt, trẻ nhà quê chẳng có nhiều lắm quà ăn vặt, những quả ổi chín đã
quý lắm rồi. Nó thích ổi, nhưng nó cũng nhớ lời dặn dò của cô giáo đã dặn “ăn
quả nhớ kẻ trồng cây”. Kiểu gì nó và em trai cũng giành những quả ổi to nhất,
chín nhất phần ông bà.
Là những lúc ấm ức, bị bắt nạt nó thường trốn trên cành ổi cao nhất mà nó leo
lên được ngồi trên đó mà khóc khiến bà tìm mãi đến tận cơm chiều mới chịu tụt
xuống.
Ông nội sau đó mất, lúc ấy nó chỉ biết ông ngủ thật lâu không dậy nữa, những
mùa ổi chín cây ổi vẫn sai quả nhưng chẳng còn người hái từng quả chín cho nó
nữa. Lớn hơn nó đi học xa, rồi em trai cũng có những trò chơi hấp dẫn hơn, ổi
chín để đó cho chim chào mào đến ăn.
Hương ổi của tuổi thơ vẫn phảng phất…
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương (Ca dao)
Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ măng rau đã sẵn sàng...(Tố Hữu)
Ở tuổi ngoài 80, cao lớn, khỏe mạnh
nhưng bị nặng tai. Trí nhớ còn khá minh mẫn, ông bồi hồi nhớ lại từng
chi tiết thời gian được nấu ăn phục vụ Bác Hồ và cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng trong Phủ Chủ tịch. Tên ông là Đặng Văn Lơ.
Phục vụ việc nấu ăn cho Bác từ năm 1960
đến ngày Bác qua đời (1969) có ông Đinh Văn Cẩn và ông, trong đó ông Cẩn
được phân công làm bếp chính của Bác, ông là bếp chính của Thủ tướng
Phạm Văn Đồng. Nhưng vì Bác Hồ và bác Phạm Văn Đồng ở cùng một nơi, ăn
cùng một chỗ, ngồi cùng một mâm, nên hai ông thay phiên nhau phục vụ cả
hai người.
Ông Lơ kể, nhà ông rất nghèo, chỉ học
đến lớp 3 rồi vào bộ đội, trung đoàn 15, đại đội 421 đóng quân ở chợ
Chu. Từ năm 1949, có nhiều cố vấn Trung Quốc sang giúp Việt Nam, vì vậy
một số bộ đội được chọn đi học nấu món ăn Trung Quốc. Tổng cộng có 150
người, nhưng ông là một trong những học viên xuất sắc nhất, thường xuyên
được nấu tiêu chuẩn đặc táo (tức là trên cả trung táo và tiểu táo).
Ông Đặng Văn Lơ
Lý do ông được nhận vinh dự cao quý này
là trong thời gian từ năm 1953-1954, Bác Hồ thường sang Đồi cố vấn làm
việc với các chuyên gia. Ông Cẩn mượn bếp của ông để nấu cơm cho Bác.
Thấy ông là người chăm chỉ, thật thà lại khỏe mạnh, nấu ăn ngon nên ông
Cẩn chú ý. Kháng chiến thành công, Trung ương về Hà Nội, ông Cẩn đã giới
thiệu ông và được chấp nhận.
Ông kể: “Ông Cẩn được Pháp đào tạo,
nấu giỏi cả cơm Tây lẫn cơm Việt, tôi coi là bậc thầy. Anh em thường
xuyên trao đổi nên sau này các món ăn Tây, Tàu, Việt cả hai đều thạo cả.
Hai chúng tôi thay nhau phục vụ, khi tôi làm thì ông Cẩn nghỉ và ngược
lại. Hàng ngày, người phục vụ đứng bên này ao, trông sang nhà sàn của
Bác, nếu nghe tiếng chuông leng keng sẽ xuống bếp báo chúng tôi chuẩn
bị.
Buổi sáng Bác ăn lúc 6h, trưa ăn lúc
10 rưỡi, còn chiều ăn vào lúc 17h30. Bác Đồng làm việc bên ngoài nếu về
kịp thì ăn cùng, còn bận đi tiếp khách thì Bác ăn một mình. Các món ăn
thay đổi luôn cho ngon miệng, nhưng thường thì bữa sáng Bác dùng cà phê
đen, với bánh ngọt giống như bánh patêsô bây giờ. Có hôm Bác đổi sang
xúc xích chấm mù tạt hoặc bánh mì trứng ốp la.
10h Bác uống một ly nước sâm, 10h30
thì ăn trưa. Đến 2h chiều Bác uống một cốc cà phê sữa, 4h lại uống 1 ly
nước sâm, rồi 5h30 chiều thì ăn cơm. 8h tối Bác uống thêm một cốc cà phê
sữa nữa, chỉ thế thôi.
Căn bếp nơi phục nấu ăn cho Bác Hồ và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Phủ Chủ tịch
Bữa cơm của Bác giản dị lắm, món ăn
chính chỉ có 3 món: canh, rau, thịt (hoặc cá), ăn xong tráng miệng bằng
một quả táo nướng. Đây là loại táo Trung Quốc, đem bổ đôi, bỏ ruột,
nướng xém, phết một ít đường và bơ, Bác cầm chiếc thìa nhỏ xúc ăn.”
Bác ăn rất đúng giờ, luôn dặn người phục
vụ chỉ làm vừa đủ, không được làm thừa, lãng phí. Khi ăn, món nào không
ăn hết, Bác trở đầu đũa để riêng, bảo cất đi, đến chiều làm nóng lại
cho Bác ăn tiếp.
Ông Lơ kể tiếp: “Chúng tôi muốn Bác
ăn được nhiều, nên múc một bát súp lớn, nhưng Bác sẻ lại một nửa. Sau
chúng tôi rút xuống 1/3 bát thì Bác ăn hết. Biết thói quen của Bác nên
mâm cơm bao giờ chúng tôi cũng bày thêm một miếng cháy nhỏ. Hai anh em
thường xuyên trao đổi với nhau, để kịp thời điều chỉnh. Tiêu chuẩn là
phải vệ sinh, tinh khiết, chất lượng.”
Thực phẩm hàng ngày được ô tô đưa đến
tận nơi, đựng trong một chiếc hòm bằng gỗ, đề số 401. Bên trong có 2 hộp
nhôm để riêng hàng chín và hàng tươi sống kèm theo hóa đơn, cuối tháng
thì thanh toán một lần.
Cơ bản thì hai bác ăn như nhau, nhưng
buổi sáng bác Phạm Văn Đồng thích ăn các món vặt mỗi thứ một tí: 2 quả
chà là, cốc nước chè tươi, một ca nhỏ cháo vừng đen. Hôm thì ăn miếng
phomat kèm vài miếng đu đủ. Bữa chính thì bác Đồng thường ăn thêm khoai
lang, 2 miếng đậu rán non và mấy nhánh tỏi.
Ông Lơ bật mí về công tác an ninh, an
toàn thực phẩm phục vụ hai bác. Người phục vụ thường xuyên được kiểm tra
sức khỏe, nhắc nhở cắt móng tay, quần áo phải luôn sạch sẽ. Hàng ngày
cứ trước giờ ăn 1 tiếng, an ninh đến lấy mẫu thức ăn mang về xét nghiệm.
Nếu không vấn đề gì thì thôi, nếu có họ sẽ gọi điện sang. Ông Lơ tự hào
nói: “Nhưng trong từng ấy năm, chưa bao giờ chúng tôi bị gọi “gọi điện” cả.”
Để giữ bí mật, trên bảng chấm cơm ở nhà bếp Bác Hồ lấy tên là Cụ Hiền, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lấy tên là ông Lành.
Những hôm Bác có khách là chuyên gia
nước ngoài, hay anh hùng, chiến sĩ thi đua thì hai ông khá bận rộn vì
chỉ có hai người tự tay nấu tất cả các món ăn. Ông Lơ làm thêm bánh bao,
tráng bánh cuốn, ông Cẩn làm bánh mỳ. Khi nào Bác họp với Bộ Chính trị,
các ông cũng phục vụ luôn, lúc thì bánh cuốn, bánh giò, lúc thì cháo cá
quả, mì vằn thắn, phở… Ngay cả khi có khách, Bác đều dặn kỹ chúng tôi
có bao nhiêu người, chỉ làm vừa đủ, không được làm thừa, lãng phí.
Ông Lơ tự hào kể, phục vụ Bác 9 năm
trời, có 2 lần ông được Bác hỏi chuyện riêng. “Một lần tôi đi chăn bò về
thì gặp Bác. Bác ra hiệu cho tôi dừng lại hỏi, chú đông con lắm phải
không? Tôi thưa vâng. Bác hỏi thăm hoàn cảnh gia đình thế nào, tôi không
dám thưa kỹ, nhưng Bác biết. Vài hôm sau thấy ông Vũ Kỳ mang chăn, áo
len xuống bảo Bác cho tôi để gửi về nhà.
Lần khác tôi ngồi ở bờ ao, bấy giờ chưa
kè đẹp như bây giờ đâu, đánh xoong nồi bằng trấu và cát. Bác đi bộ qua
thấy, dừng lại hỏi chú đánh nồi bằng cái gì thế? Tôi thật thà thưa. Bác
bảo, đánh bằng trấu và cát thì xoong nhanh mòn, lại không bóng, chú chịu
khó đánh bằng tro bếp, nó lâu một tí nhưng nồi không bị mòn mà lại
bóng. Ấy là Bác dạy tôi đức tính tiết kiệm.”
Ông
Đặng Văn Lơ đã "biểu diễn" lại những món ăn từng phục vụ Bác Hồ. Bên
cạnh là thiếu tướng Phạm Sơn Dương, con trai cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Những khi Bác đi công tác, hai ông xếp sẵn thức ăn vào cặp
lồng. Đến trưa thì trải một tấm ni lông ra bày thức ăn lên. Bác không
cho địa phương làm cơm, vì Bác bảo tiếp một mình Bác mà bày cỗ bàn linh
đình sẽ tốn kém của dân của nước!
Món ăn Bác thích là thịt mỡ kho, nhưng
vì tuổi Bác đã cao, nên các bác sĩ không đồng ý. Hai ông chỉ dám lọc
thịt mỡ ra, cho vào miếng vải màn, ép thành nước, tẩm ướp với thịt nạc
rồi đem kho, nhưng mỗi bữa cũng chỉ 2 miếng nhỏ thôi. Mỗi khi ăn xong,
Bác đều xếp lại bát đũa gọn gàng, phục vụ chỉ việc bê đi.
Vui nhất là bữa cơm tất niên, mỗi năm
hai bác ăn với anh em phục vụ vào ngày 28 hoặc 29 Tết. Bác ân cần bảo,
anh em vất vả quanh năm, bữa cơm này phải ăn thật khỏe, thật nhiều, ăn
cho hết nhé.
Chúng tôi hỏi, được phục vụ gần Bác lâu
như vậy, điều gì ông rút ra cho mình từ tấm gương của Bác? Ông Lơ nói
ngay: Thường xuyên vận động. Bác Hồ đi bộ rất đều, ăn uống điều độ, đúng
giờ. Bác luôn quan tâm đến mọi người, sống giản dị, tình cảm chân thật.
“Những hôm trời mưa, chúng tôi định mang cơm lên nhà sàn, Bác trông thấy bắt bê về, rồi Bác tự xắn quần đi xuống nhà ăn.” Ông Lơ xúc động nhớ lại.
Sau ngày Bác mất một thời gian, ông Đinh
Văn Cẩn cũng qua đời. Ông Lơ tiếp tục phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng
đến năm 1988 thì hết tuổi, tổng cộng ông nấu ăn trong Phủ Chủ tịch 28
năm 6 tháng. Ông được ưu tiên sang Trung Quốc làm đầu bếp tại Đại sứ
quán Việt Nam 3 năm nữa thì về hưu. Hiện ông đang sống tại Hà Nội.
Cách đây không lâu, ông đã “biểu diễn”
lại một số món ăn mình từng phục vụ Bác Hồ cho một nhóm cán bộ chiến sĩ,
trong đó có thiếu tướng Phạm Sơn Dương là con trai cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng.
Cách làm một số món ăn phục vụ Bác Hồ của ông Đặng Văn Lơ
Gà rán Quảng Đông: Gà nhỏ 7-8 lạng, pha
nước 3 sôi 2 lạnh, rửa sạch gà, thả vào nồi rồi mới vặt lông. Để ráo,
ướp xì dầu trong ngoài đầy đủ. Trước khi ăn, cho vào chảo mỡ ngập, rán
vàng hết hai mặt, khi chặt ra trong xương gà còn hơi hồng hồng.
Gà luộc Quảng Đông: Gà nhỏ 7-8 lạng, rửa
gà, cho vào nước 3 sôi 2 lạnh. Vặt lông, để ráo, rắc muối gia vị lên
con gà sau đó luộc đến độ sôi khoảng 80 độ thì bắc ra, để nguyên trong
nồi 15 phút. Sau đó cho con gà đã luộc vào nồi nước thật lạnh, để 15
phút nữa. Khi chặt thịt bên trong vẫn còn nước hơi hồng hồng, như thế
khi ăn thịt sẽ mềm và da gà vẫn giòn. Thái vát, bỏ xương, lấy nước dùng,
pha thêm ít mì chính là ăn.
Cá bống kho tộ: bống sông rửa sạch, lấy
khăn thấm khô, ướp gia vị, rồi tưới nước màu (nước hàng) lên. Sau đó cho
vào nồi đất, có nước dùng gà xâm xấp, đun sôi đến chín, rồi để nhỏ lửa,
khoảng 60 độ, chờ cá săn lại là được.