Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

LỜI THỀ CỎ MAY

Tác giả: Phạm Công Trứ


Làm sao quên được tuổi thơ
Tuổi vàng, tuổi ngọc - tôi ngờ lời ai

Thuở ấy tôi mới lên mười
Còn em lên bảy, theo tôi cả ngày
Quần em dệt kín bông may
Áo tôi đứt cúc, mực dây tím bầm
Tuổi thơ chân đất đầu trần
Từ trong lấm láp em thầm lớn lên
Bây giờ xinh đẹp là em
Em ra thành phố dần quên một thời
Về quê ăn Tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò
Gặp tôi, em hỏi hững hờ
"Anh chưa lấy vợ, còn chờ đợi ai ?"
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ ... một khoảng trời pha lê

Trăng vàng đêm ấy, bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may ...


comay









Phạm Công Trứ: Lời thề cỏ may
Giữa lúc người ta xuôi về thành phố, thì Phạm Công Trứ lại ngược ra ngoại ô, trở về làng quê, và rồi anh cứ đi mãi, đi hút mãi về xứ dân gian. Ở đó anh gặp Nguyễn Bính, và ngay lập tức anh đã bị ông thi sĩ đồng hương này bắt mất hồn! Bởi vậy, có một nhà thơ ở bậc đàn anh, đọc xong Trứ bảo: “Đời đã có một Nguyễn Bính rồi. Có nên cần thêm một Nguyễn Bính hạng hai, hạng ba nữa không ?
Nói thế thì oan cho Trứ quá . Anh đâu phải Nguyễn Bính. Dú có khoác tấm áo the, có đội cái khăn xếp xưa của Nguyễn Bính cũng đâu đã phải là Nguyễn Bính. Hãy xem cô gái nhà quê ra tỉnh này về thì rõ. Cái áo chẽn, cái quần bò đã khác xa cái áo the quần lĩnh cổ cài khuy bấm ngày xưa, chí ít cũng là sự khác biệt về một trang phục của thiếu nữ ở hai thời.
Dẫu khác thế, người đọc Phạm Công Trứ vẫn cứ nhớ đến Nguyễn Bính. Giá không có Nguyễn Bính, có lẽ Phạm Công Trứ đã có một cái chiếu giữa làng văn. Nhưng cái chiếu Trứ đang ngồi vào hiện nay, Nguyễn Bính đã ngã bóng mình xuống đó cách đây nữa thế kỷ. Bởi thế, thơ Trứ có chỗ quả cũng cớm nắng, xanh xao. Thiết tưởng, Trứ cũng có thể bắt chước người xưa , ngữa mặt lên trời mà than rằng: Trời đã sinh ra Trứ sao trước đó còn sinh ra Bính?
                                                                                                          Trần Đăng Khoa

Phạm Công Trứ: Gã nhà quê: ở phố

Mộc mạc, hồn nhiên, chân thật, đó là những gì người ta có thể cảm nhận về gã nhà thơ tự nhận mình là "quê mùa" Phạm Công Trứ.

Phạm Công Trứ sinh ra ở vùng quê ven biển Hải Hậu, Nam Định, suốt đời ám ảnh bởi lũy tre, cánh đồng, rơm rạ, củ khoai, con cá. Cho dù đã từng sống ở nước ngoài chăng nữa thì nỗi nhớ ấy vẫn không ngừng hiện diện trong thơ anh. Nhưng nó không ở trạng thái hoài cảm, buồn sầu như thơ của nhiều thi sĩ khác. Mà nó hài hước, bông phèng, tếu táo. Cái chất trào lộng ấy đã định vị một chỗ đứng riêng của Phạm Công Trứ trong đời sống văn chương. Nhưng đọc kỹ anh, thì đằng sau cái bông đùa, tếu táo là rất nhiều suy ngẫm, là ăm ắp nỗi buồn.
Nhiều độc giả đã thuộc nằm lòng bài thơ "Lời thề cỏ may" của Phạm Công Trứ. Anh là người làm thơ hạnh phúc vì ngay từ buổi đầu chạm ngõ văn chương đã có tác phẩm "định danh" mình. Hỏi, vì sao anh lại mê hoa cỏ may mà không phải những thứ hoa khác sang trọng hơn, Phạm Công Trứ cười, lại tếu táo: "Hoa cỏ may là thứ hoa mọc chìm khuất nơi bờ đê, không có mùi hương. Có thể mình mê loài hoa như vậy nên cả đời cầm bút mình bình lặng chăng". Tôi thì không nghĩ vậy, hoa cỏ may là loài hoa khiêm nhường, nhưng nó là thứ quyến luyến đôi chân người đi. Không đúng như thế thì sao lại có người "ngồi gỡ lời thề cỏ may" nhỉ? Cỏ may có mặt không chỉ trong những bài thơ đầu tiên của Phạm Công Trứ mà nó còn xuất hiện trong suốt sự nghiệp thơ của anh. Nó giống như hình bóng quê nhà, một lời nhắc nhở, một nỗi nhớ về nơi nhà thơ sinh ra, nơi tổ tiên, gốc gác, họ hàng của mình.
Phạm Công Trứ giữ cái vẻ "nhà quê" không phải cố tình cố ý gì cả, cũng không có ý đồ làm "đặc sản" văn chương thời buổi thừa mứa những văn minh phố xá, đồ ăn Tây, Tàu nên người ta thích rau lang, cà dầm, gái quê…Giản dị là anh sống thật thà với chính mình, không thích tô vẽ hay che đậy, thậm chí không cần sự thay đổi. Anh bảo, cha mẹ mình nhà quê "chính hiệu". Mình là con nhà nông dân, không hiểu trời xui đất khiến thế nào lại dính dáng vào nghiệp thơ văn.
Từng có những năm tháng tuổi trẻ ở Trường Sơn, cũng va đập bom đạn, cái sống, cái chết như bao người lính trận, rồi sang Nga bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Luật, làm báo Pháp Luật, nhưng nói như nhà phê bình Chu Văn Sơn thì thơ Phạm Công Trứ không có khói súng, và "cơ hồ cũng không có chút luật nào". Mà anh chủ trương quay về khơi tiếp cái mạch hồn quê, cái phong vị mà anh rất yêu trong thơ Nguyễn Bính.
Độc giả đọc Phạm Công Trứ thì ít nhiều nhớ Nguyễn Bính. Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết: "Giá không có Nguyễn Bính, có lẽ Phạm Công Trứ đã có một cái chiếu trải giữa làng văn rồi. Nhưng cái chiếu Trứ đang ngồi vào hiện nay, Nguyễn Bính đã ngả bóng mình xuống đó cách đây nửa thế kỷ. Bởi thế, thơ Trứ có chỗ quả cũng cớm nắng, xanh xao. Thiết tưởng, Trứ cũng có thể bắt chước người xưa ngửa mặt lên trời mà than rằng: Trời đã sinh ra Trứ sao trước đó còn sinh ra Bính?". Đó là cách nói vui của nhà thơ thần đồng thôi, nhưng chắc chắn độc giả đều đồng ý rằng, chúng ta đang ngày một mất dần đi cái cảm thức nhà quê trong văn học.
Trong một lần trò chuyện với nhà thơ Mai Linh, ông đã bày tỏ đại ý rằng, các nhà thơ hôm nay chỉ toàn mặc áo thành thị, đau buồn những nỗi tủn mủn của thành thị mà bỏ quên làng quê của mình. Ngay trong Ngày thơ vừa diễn ra tại Hà Nội cũng không "bói" đâu ra một nhà thơ của nông thôn. Người nông dân đang bị văn học bỏ rơi. Họ không tìm thấy bóng dáng mình trong văn học nữa. Ý kiến này thực là xác đáng. Bởi vậy mà ta càng thấy trân trọng những người cầm bút như Phạm Công Trứ. Anh cứ đau đáu về cái làng của mình, về cây gạo, ánh trăng, bờ đê, cô gái mặc áo phông quần bò…
Người nông dân trong thơ Phạm Công Trứ là người nông dân thời hội nhập với nhiều đổi thay không tránh khỏi của đời sống thời kinh tế thị trường. Những đổi thay ít nhiều buồn lòng, ít nhiều tiếc nuối, thậm chí ít nhiều kệch cỡm, nhưng thật khó tránh khỏi. Viết về những đổi thay này, giọng thơ tếu táo, hài hước của Phạm Công Trứ tỏ ra rất… lợi hại. Trong cái vỏ trào lộng ấy, nhà thơ có thể giấu được những xót xa, những hoài cảm của mình. Phạm Công Trứ bày tỏ, anh viết về người nông dân vì họ là hình bóng của anh, của cha mẹ anh. Người nông dân Việt Nam thiệt thòi nhiều, có lúc họ bị bỏ quên cả trong đời sống lẫn trong nghệ thuật. "Ngày xưa có dòng văn học về nông thôn rất rõ. Những Anh Thơ, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ… đã có thể tạo nên diện mạo của nông thôn. Nhưng hôm nay thì diện mạo nông thôn không còn được rõ ràng, đẹp và có hồn như vậy nữa. Cái hồn quê đã phôi phai đi quá nhiều. Tôi nghĩ rằng có nhiều lý do, nhưng cơ bản là tâm thế người cầm bút hôm nay đã khác đi nhiều rồi. Xu thế hội nhập, quá trình đô thị hóa đã xâm chiếm vào ngòi bút nhà văn.
Trong văn xuôi, không còn những trang văn như bậc thầy Nam Cao đã từng viết. Bây giờ làng quê có Chí Phèo không? Nhiều chứ, nhưng không có nhà văn viết về Chí Phèo như Nam Cao nữa. Mấy năm nay, ngoài "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư, không có gì hay viết về người nông dân cả. Văn học hôm nay không còn mê hoặc được người nông dân nữa. Cái hồn quê như tôi nói, nó phôi phai đi là vì cảnh quê cũng đã mất dần đi. Văn học sinh ra phải có thiên nhiên, môi trường của nó. Giống như văn học Nga, nó đẹp vì thiên nhiên đẹp. Một không gian đặc trưng sẽ luôn có hương vị. Và nó tỏa lên các trang sách. Cảnh trí nông thôn ngày hôm nay không còn ám ảnh người viết nhiều. Nó thay đổi quá".  
Phạm Công Trứ thừa nhận mình tài năng không lớn. Anh cũng không nuôi tham vọng nhiều trong văn chương, dù đó là tình yêu của anh. Nói về tình yêu, anh luận giải: "Trong văn học, tình yêu cũng chính là tài năng, là tài sản của người cầm bút. Rất nhiều tác phẩm lớn sinh ra từ tình yêu. Tình yêu dành cho văn học đó là sự thế chấp, sự hy sinh, sự dám đánh đổi. Tôi chắc rằng những tình yêu như vậy trong nhà văn chúng ta hiện nay không nhiều lắm. Bởi thế, sách xuất bản thì nhiều, khối lượng càng nặng thì giá trị càng nhạt". Rất sòng phẳng, Phạm Công Trứ cho rằng: "Nhà văn bây giờ viết để đăng báo là chính chứ không viết cho lâu dài được. Một số nhà văn trẻ đang nổi danh đấy nhưng tôi cứ có cảm giác họ sẽ không đi xa. Vì vấn đề của văn chương là cái hồn. Văn chương không có hồn thì không vang vọng, không làm người ta đắm đuối được".
Tự nhận xét về mình, Phạm Công Trứ nói đời mình đơn giản và anh cũng không đi ra khỏi những cái "thường tình thế thôi" được: "Mình đi bộ đội, đi học, đi làm báo, lằng nhằng hết cả tuổi trẻ cũng bò lên được chức Trưởng ban Nội chính của báo. 42 tuổi mình mới lấy vợ. Điều ân hận nhất của mình là bố mất rồi vẫn lo cho mình vì chưa lấy vợ. Làm thơ mà sống một mình thì bị nhiều đồn thổi lắm. Lúc chưa có vợ mình cũng bị thiên hạ nghĩ thế này, thế kia nhiều lắm. Còn bây giờ thì vợ con cũng có vẻ "đề huề" như ai. Có điều tuổi đã cao mà con thì còn nhỏ, sức khỏe thì kém đi, lo lắng thì nhiều lên. Bàn về tình yêu trong đời thi sĩ thì tôi nghĩ thế này. Tình yêu cũng như văn chương vậy, lúc trẻ thì đẹp lắm. Lúc trẻ mình nghĩ tình yêu giống như ánh trăng chiếu xuống dòng sông óng ánh vậy. Nhưng rồi khi dòng sông ấy cạn đi, nó nhô ra những mảnh chĩnh, mảnh sành. Nói là mình đã có tình yêu chưa, mình có hạnh phúc không thì tôi không dám chắc. Vì hạnh phúc nó khó định nghĩa lắm. Giống như việc làm thơ cũng vậy thôi. Chúng ta cố mấy cũng không đi quá được cái giời cho. Việc làm thơ không bao giờ cố được. Tôi tự dặn lòng, thôi thì đừng ảo tưởng. Mình là kẻ đến với cánh đồng chữ nghĩa nhọc nhằn này, có bỏ công sức cày cuốc, có yêu, có ý thức rằng yêu là hy sinh, là dấn thân. Nhưng với những thứ trời cho mình, mình vẫn chỉ là người làm đông cho nền văn học này chứ không phải làm đỉnh. Mình chắc chắn không ảo tưởng".
Ảo tưởng, căn bệnh thường gặp ở người cầm bút, nhất là những người cầm bút trẻ, nó cũng có mặt tích cực là làm cho người viết say sưa với chính mình. Phạm Công Trứ đã qua cái ngày say sưa ấy. Anh tỉnh táo, biết mình, không cần khiêm tốn cũng không cần khoa trương. Đúng như thơ anh: thật, không trừu tượng, không hoa lá, không mỹ từ. Thôi thì anh đã chọn một lối để đi. Mà cái lối ấy cũng đã là riêng biệt, khiến người đọc nhận diện được ra mình. Chỉ thế thôi đã là hạnh phúc. Những điều khác có quan trọng gì. Văn chương nếu thực sự là chuyện của trời đất, thì nhà thơ có thể quên tác phẩm của mình đi ngay sau khi nó ra đời. Hãy để thời gian tiếp tục công việc của nó. Và những giá trị thật thì còn mãi.
                                                                                                      Bình Nguyên Trang

Ngoài Nguyễn Du, Nguyễn Bính... Ngày nay nhà thơ thành công với lục bát có: Đồng Đức Bốn (1948-2006, Phạm Công Trứ 1957, Nguyễn Trọng Khơi 1960)

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

PHƯỢNG HỒNG

Nhạc: Vũ Hoàng, thơ: Đỗ Trung Quân.           
                                                                                                                                        

       Đỗ Trung Quân                         Vũ Hoàng

Bài hát Phượng hồng:

                            Bằng Kiều

Lời bài hát:
Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng,
Em chở mùa hè của tôi đi đâu ?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18,
Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu.




Mối tình đầu của tôi
Là cơn mưa giăng giăng ngoài cửa lớp,
Tà áo ai bay trắng cả giấc mơ
Là bài thơ còn hoài trong vở,
Giữa giờ chơi mang đến lại mang về.




Cánh phượng hồng ngẩn ngơ,
Mùa hè đến trường khắc nỗi nhớ trên cây,
Và mùa sau biết có còn gặp lại,
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay.



Mối tình đầu của tôi
Nhờ cây đàn buông tiếng xa xôi,
Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu,
Nên có một gã khờ ngọng nghịu đứng làm thơ.
(quay lại từ đầu)



Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
Nắng ngập đường một vạt tóc nào xa. 


Bài thơ gốc: Chút tình đầu

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu
Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa bay ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại… mang về.
Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp
Mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi nhớ vào cây
Người con gái mùa sau biết có còn gặp lại
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay…
Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng cũng hiểu – chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi… thành câm.
Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
Em hái mùa hè trên cây
Chở kỷ niệm về nhà
Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa. 
                                    Đỗ Trung Quân

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

NGƯỜI MẸ ĐIÊN
Tác giả: Vương Hằng Tích (TQ)
Dịch : Trang Hạ



Đọc truyện Audio:
http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/nguoi-me-dien-full-tuong-vy.8SrtMoZjYbZm.html


Xem truyện:


Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.

Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.
Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.
Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đồng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được...
Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đồng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được...
Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.
Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.
Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: "Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày.
Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!". Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm.
Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: "Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?". Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...".
Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: "Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?". Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng.
Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.
Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: "Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi.
Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!". Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.
Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.
Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: "Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi." Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?
Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang.
Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu.
Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: "Thụ... bóng... bóng...". Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: "Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!"
Tôi tức tối đáp lại nó: "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!" Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện.
Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng. Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn.
" Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: "Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà..."
Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Đừng... đừng...". Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...". Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc.
Tôi khinh bỉ bảo: "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!" Tôi vùng vằng bĩu môi: "Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!"
"A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!" Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: "Đánh tôi, đánh tôi!"
Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!". Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.
Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: "Thụ... ô...".
Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được.
Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.
Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói.
Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín.
Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra."
Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha.
Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết.
"Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!". Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu.
Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.
Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.
27/4/2003, lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: "Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì.
Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi.
Thím nói: "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?" Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:" Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả.
Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng doạ cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi...
Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..." Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.
Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: "Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!"
                                                                                                                2006


Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013

VẼ TRANH VÀ NẶN TƯỢNG


Họa sĩ: Vladimir Volegov


1- Vẽ tranh sơn dầu:















2- Nặn tượng:







http://www.google.com.vn/search?hl=vi&gs_rn=11&gs_ri=psy-ab&cp=16&gs_id=2&xhr=t&q=vladimir+volegov&bav=on.2,or.r_qf.&bvm=bv.45921128,d.aGc&biw=1280&bih=542&wrapid=tljp136746747804600&um=1&ie=UTF-8&tbm=isch&source=og&sa=N&tab=wi&ei=3OWBUZvHDumOigew74GAAw
DÒNG SÔNG QUÊ ANH, DÒNG SÔNG QUÊ EM
Nhạc: Đoàn Bổng                               Thơ: Lai Vu
                         

Dòng sông Đáy quê em
Sông trăng hay sông lụa
Nong kén vàng như lúa
Tròn  vành một góc trời.


Dòng sông Đà quê anh
Đá dựng ghềnh dựng thác
Nước reo thành điệu nhạc
Nguồn than trắng vô biên.


Dòng sông quê em
Dòng sông quê anh.
Sóng xanh như mắt trẻ
Sao giống nhau đến thế.


Tiếng mưa như tiếng tằm ăn
Tiếng mưa như tiếng tằm ăn…


Sông cho anh làm thơ
Về sức gầm của sóng
Về tầm cao chiều rộng
Những thiết kế công trình.


Dòng sông quê em
Dòng sông quê anh
Dòng sông yêu thương
Dòng chung đôi ta…




Bài hát:Dòng sông quê anh, dòng sông quê em
Kiều Hưng- Thu Hiền thể hiện.




Bài thơ: Dòng sông quê anh, dòng sông quê em.
Tác giả: Lai Vu

Dòng sông Đáy quê em
Sông trăng hay sông lụa
Nong kén vàng như lúa
Tròn vạnh một góc trời
Là sông dâu tằm ơi
Sóng xanh như mắt trẻ
Sao giống nhau đến thế
Tiếng mưa tiếng tằm ăn

Dòng sông Đà quê anh
Đá dựng ghềnh dựng thác
Mênh mông ngàn sóng bạc
Đàn voi đá nhấp nhô
Sông cho anh làm thơ
Về tiếng gầm của sóng
Về tầm cao chiều rộng
Những thiết kế công trình
Bình minh trên công trường
Mở ra trên dòng thác
Nguồn than trắng vô biên

Nước reo thành điệu nhạc
Dòng tơ và dòng thác
Sao gắn bó với nhau
Áo lụa sáng đèn màu
Đêm liên hoan em hát
Cuộc đời lên bát ngát
Chúng mình đi dựng xây
Anh lại gặp em đây
Hai dòng sông họp bạn…


Về 2 tác giả nhạc và thơ:
Vào khoảng đầu năm 1987, ông Quách Vinh, khi đó là Giám đốc Ty Văn hóa Hà Sơn Bình, đưa cho Đoàn Bổng tờ tạp chí mới của Hội Văn nghệ địa phương và nói: “Bổng xem có bài thơ nào trong tập này phù hợp thì phổ nhạc xem sao”. Trong tập này có bài “Dòng sông quê anh, dòng sông quê em” của Lai Vu, cán bộ ở Ty Văn hóa Hà Sơn Bình. Đọc xong, ông thấy đồng cảm, có thể phổ thành bài hát. Mấy ngày sau khi đã hoàn thành, ông đạp xe vào Hà Đông chơi, tiếp xúc với tác giả thơ. Ông xin phép Lai Vu được đổi chữ “của” thành chữ “quê” ở ngay tên bài. Người làm thơ vui vẻ chấp nhận. Quả là “quê anh, quê em” hay hơn “của anh, của em”.
Phần ca từ của bài hát rất giàu chất văn học, rất có “tứ”. Sông quê em là sông Đáy, còn sông quê anh là sông Đà. Chắc em ở miền Hà Tây, anh ở Hòa Bình (lúc đó, Hà Tây và Hòa Bình ghép lại là tỉnh Hà Sơn Bình). Sông Đáy ở Hà Tây là vùng lúa, vùng lụa; còn sông Đà ở Hòa Bình là vùng có công trình thủy điện. Nếu sông Đáy - ví như em - hiền hòa dịu dàng bao nhiêu thì sông Đà - là anh - lại mạnh mẽ, ghềnh thác, dữ dẵn bấy nhiêu. Quả là một tứ thơ hay và nhạc sĩ cũng tìm được ngôn ngữ âm nhạc rất phù hợp. Chất liệu dân gian, rõ âm hưởng quê kiểng Việt Nam, được Đoàn Bổng khai thác khéo léo, tạo nên một giai điệu uyển chuyển, lượn lờ như dòng sông Đáy vậy.
“Dòng sông Đáy quê em. Sông trăng hay sông lụa. Nong kén vàng như lúa. Tròn vành một góc trời. Dòng sông Đà quê anh. Đá dựng ghềnh dựng thác. Nước reo thành điệu nhạc. Nguồn than trắng vô biên…”. Người làm thơ đã đưa ra hình ảnh khá đắt “than trắng” (thủy điện). Đoàn Bổng đã lược bỏ khổ thơ không tiện cho việc phổ nhạc nhưng đã giữ được ý đắt này.
Trước bài hát này, Đoàn Bổng chưa phổ nhạc cho thơ nhiều. Nhưng ông đã tỏ ra cao tay trong lĩnh vực phổ thơ. Nếu chỉ nghe ca khúc mà không đọc lời thơ, người nghe không nghĩ đây là bài hát phổ thơ mà như là nhạc sĩ sáng tác luôn lời ca. Đó là bởi tác phẩm có bố cục rất hợp lý, chặt chẽ, kết cấu hài hòa. Việc triển khai giai điệu tự nhiên, đón bắt cảm xúc khéo léo.
Trong kháng chiến chống Mỹ, “Hà Tây quê lụa” của Nhật Lai được coi như “tỉnh ca”. Nếu ca khúc của Nhật Lai có giá trị bởi tầm khái quát lớn về vùng quê cửa ngõ Thủ đô, thì bài hát của Đoàn Bổng lại thú vị bởi biểu hiện được một ngõ ngách trong trái tim người dân xứ sở này gắn với 2 đặc sản quê hương: một vùng lúa thơ mộng bao đời và công trình vĩ đại của thế kỷ 20.
“Dòng sông quê anh, dòng sông quê em” được chắp cánh bay xa có công sức đóng góp đáng kể của 2 nghệ sĩ song ca rất thành công trên làn sóng Đài TNVN là Lê Dung và Tiến Thành. Bốn người liên quan đến bài hát thì 3 người đã yên nghỉ chốn vĩnh hằng: Lai Vu, Lê Dung, Tiến Thành. Tác giả thơ và 2 ca sĩ qua đời nhưng bài hát thì vẫn còn mãi với thời gian.

Lê Dung và Tiến Thành hát đầu tiên bài hát này:
http://baicadicungnamthang.net/bai-hat/dong-song-que-anh-dong-song-que-em-4


GÁI ĐẸP, GÁI CÓ QUYỀN!
“Trong một vương quốc mà chỉ toàn phụ nữ, tôi thề các trung tâm thẩm mỹ sẽ chết đói, các hãng mỹ phẩm sẽ phá sản và các loại kem làm trắng da sẽ vứt đầy đường”.

Hai thứ đáng nể trên đời.
Người xưa tuyên bố có hai thứ trên đời đáng nể, đó là anh hùng và giai nhân.
Anh hùng thì ai cũng biết thường được đề cao, ví dụ như làm tướng. Trong chiến tranh, và cả trong thời bình, tướng hô một tiếng là có cả ngàn quân sĩ vội vã nghe theo.
Còn giai nhân chả việc gì phải hô. Giai nhân chỉ cần liếc mắt, chỉ cần thỏ thẻ, hoặc cùng lắm, chỉ cần khóc thì ngàn người chưa biết, chứ dăm bảy chục mạng cuống cuồng là chuyện có thể diễn ra.
Các cụ tuyên bố “cái nết đánh chết cái đẹp”. Chả ai dám nghi ngờ. Nhưng tôi tin đấy là những trận đánh lớn, những cuộc chiến tranh lâu dài. Chứ còn trong các giao chiến nhỏ - nhưng khốc liệt - cái đẹp thường thắng.
Có nhiều lý do để thắng. Nhưng lý do kỳ lạ nhất là đàn ông thường tình nguyện thua mà chả cần giao chiến gì cả. Đã vậy, thua mà còn vênh vang, còn vinh dự mới đau lòng.
Ví dụ như nếu ta là đàn ông, ta đang chạy xe bon bon trên đường, vừa chạy vừa hát trong buổi sáng mùa xuân, nếu có gã trai nào đâm vào ta thì nhất định sẽ có cãi nhau, có ăn thua ai phải ai trái. Nhưng nếu một cô hoa hậu đụng vào, thì ta sẽ ba chân bốn cẳng (hoặc nhiều hơn bốn cẳng) đỡ nàng dậy, phủi bụi cho nàng, đòi đưa nàng về và đòi xin số điện thoại, dù nàng có trái lè lè. Tại sao con gái phải lao đầu vào các trung tâm giải phẫu, bơm hết cái nọ tới cái kia, vá hết thứ này tới thứ khác, nếu không phải để tăng quyền lực với đàn ông?
Việc đàn bà đẹp có quyền, thậm chí lạm dụng quyền đó đến mức tàn khóc chả phải tin đồn, chả phải suy diễn mà sử sách còn ghi. Bao Tự nè, Từ Hy Thái hậu nè, Cleopatra nè… ngay cả đại tướng như Lã Bố cũng bị Điêu Thuyền sai khiến như sai Osin đấy thôi. Gái đẹp thì quyền lực vô biên, gái xấu thì... thôi rồi?
Một cô gái xấu gặp tai nạn rõ ràng đáng thương. Nhưng một cô gái đẹp gặp trắc trở sẽ có quyền đáng thương gấp bội.

Quyền của con gái đẹp là vô biên
Hiểu cho điều đó các nhà văn, các nhà thơ, các nhà viết truyện cổ tích và gần đây các nhà đạo diễn Điện ảnh khi tạo nên một nhân vật nữ bất hạnh bao giờ cũng kèm theo nguyên tắc bất di bất dịch là cô ấy đẹp. Chả tin thì cứ nhìn đi: Juliet đẹp, Thúy Kiều đẹp, cô Lọ lem và cô Tấm cũng đẹp nốt.
Kinh khủng hơn nữa, đàn bà đẹp có quyền gây kính trọng và thương xót đã đành, còn có quyền gây tội ác nữa. Chả thế mà Bạch Cốt tinh, Hoạn Thư hay các ả Tiên cá luôn luôn lôi thủy thủ từ trên tàu xuống nước cũng đẹp lạ lùng.
Tóm lại, quyền của con gái đẹp là vô biên. Từ quyền xấu tới quyền tốt, từ quyền hại đàn ông đến hại cả đàn bà, có đau xót không cơ chứ?
Để sửa chữa sai lầm này của cuộc sống, các đấng tiền nhân đã ra chỉ thị: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Nhưng trên thực tế hiện nay, gỗ thiên nhiên gần như cạn kiệt, còn gỗ tổng hợp, gỗ hóa học thì nước sơn quan trọng hơn cả, có ai còn thời gian và còn sức lực xem kỹ bên trong ?
Ngay cả một nữ nhà văn nổi tiếng đã từng viết cuốn sách “Đàn bà xấu thì không có quà”. Trách gì tới bọn đàn ông tầm thường vớ vẩn. Đối với đám đàn ông đấy, xấu chả những không có quà, đôi khi còn bị phạt. Nhẹ hơn cả thì cũng bị lơ đi.
Đi khắp phố phường hiện nay, có thể chỉ cần ba bước là thấy một nơi treo biển “cần nữ nhân viên, có ngoại hình”. Chưa từng thấy một chỗ nào trong đô thị treo tuyên ngôn “cần nữ nhân viên, giỏi tay nghề còn xấu đến đâu cũng được”.
Một vĩ nhân đã viết: “Đau đớn thay phận đàn bà”. Đáng ra phải sửa thành “Nhục nhã thay phận đàn ông” vì chúng chỉ nông cạn kiên quyết tin vào cái đẹp, cái đẹp như một lớp sương mù, bao phủ cả mắt mũi và cả trí tuệ của chúng.
Nếu có ba bốn chàng ngồi tán chuyện với nhau, một chàng khoe “hôm qua tớ vừa quen một em” thì trăm gã như một đều gào lên hỏi “em có đẹp không?” Chả bao giờ có đứa thắc mắc “em có thông minh không”? Chứng tỏ thông minh hoàn toàn không đáng đếm xỉa tới.
Tất nhiên còn sót một số đàn ông kiên cường, cố sức giữ tỉnh táo, tin vào vẻ đẹp tâm hồn chứ không nhìn vào nước da hoặc nhìn vào vòng một, vòng hai, vòng ba. Số này ít, già, tiếng kêu yếu ớt và không được mời tham dự các event cũng như chả khi nào được chấm thi hoa hậu, và nếu xét cho kỹ, thường không hành động một mình mà có bà vợ xấu giật dây đằng sau.
Khi đã hiểu được quyền lực của phụ nữ đẹp một cách sâu sắc, toàn diện và thấm thía, chúng ta sẽ xác định được cách cư xử của mình, giúp cho bản thân và bạn bè tồn tại một cách bình an!
                                                                                                     Lê Hoàng